TẠNG TÂM
Không đơn giản mà các y gia lại xem tạng tâm làn vua của các tạng. Vậy tạng Tâm quan trọng như thế nào đối với lục phủ ngũ tạng và toàn thể cơ thể nói chung. Cùng xem cách người xưa mô tả về tạng Tâm trong bài viết sau đây?
GIẢI PHẪU TẠNG TÂM

Tâm tạng ở tại hung trung, làm cơ quan rất trọng yếu trong nhân thân, hành khí huyết thống lãnh các kinh mạch, thần linh ở nơi ấy. Tâm phía trên lớn, dưới tót nhỏ, to bằng một bàn tay nắm lại, chót dưới hơi lệch về bên hữu, ngoài Tâm có màng bọc bằng chất nhuận trơn láng, gọi là Tâm bào lạc. Trong Tâm có bốn ngăn, toàn là chất cân nhục, có sức thu giản để đưa huyết dịch vận hành ra khắp các kinh mạch.
Quả Tâm là túi chứa huyết to bằng nắm tay, như quả lê treo nơi trong ngực, nắm về đàng trước, giữa hai lá Phế (Phồi) hơi chếch về tả, có hai lớp vỏ bọc ngoài hơi dày, hai lá cách nhau bởi chất nước, lớp trong, mỏng hơn. Vỏ quả Tâm là lớp thớ thịt rất bền dẻo, để co giản đụn máu ra. Tâm có hai phòng, mỗi phòng có hai ngăn, phòng tả đựng huyết đỏ, phòng hữu đựng huyết đen, nơi Tâm có ba ống dẫn huyết là : Phát huyết quản, Hồi huyết quản và Vi-ti huyết quản.
CHỨC NĂNG SINH LÝ
- Phát huyết quản đem huyết tốt từ ngăn dưới Tâm đưa ra cơ thể.
- Hồi huyết quản thụ những huyết ở các Vi-ti huyết quản gom về Tâm.
- Vi ti huyết quản nhỏ như sợi tóc, phân bố khắp nơi các động mạch nối liền với tĩnh mạch.
Động mạch đưa huyết tốt về nuôi cơ thể, phần vi ti huyết quản khác, thu huyết xấu vào phòng bên hửu, là nơi hồi-huyết quản đưa vào Tầm lên Phế, đề loại trừ thán khí khi ra và hút Dưỡng khí vào, để hóa tươi huyết lại, trở về phòng bên tả, hiệp với huyết từ ngăn trên ép xuống ngăn dưới quả Tâm, cứ lưu hành như thế khắp cùng châu thân gọi là tuần hoàn.
CÁC THUỘC TÍNH CỦA TẠNG TÂM
Nội Kinh nói: Tại thiên vi nhiệt. Trời nơi phương Nam là miền nhiệt đới sinh nhiều khí nóng. Tại địa vi hỏa. Dưới đất nhiệt khí sinh ra lửa. Tại thể vi mạch nơi hình thể người, có Tâm sanh huyết mạch.
- Tại sắc vi xích: Sắc đỏ thuộc Tâm-hỏa.
- Tại âm vị chủy : Tiếng chủy Ở trong ngũ âm nghe diệu và nhỏ.
- Tại thanh vi tiếu: Tâm khí: mừng vui sinh tiếng cười.
- Tại biến động vi ưu: Tâm chao động hạy lo.
- Tại khiếu vi thiệt : Tâm thông khiếu lên Iưỡi.
- Tại vị vi khổ: Vật bị lửa đốt đều có vị đắng.
- Tại chi vi hỷ: Tâm chi phấn khởi vui mừng
- Kỳ dịch vi hãn: Tâm hỏa hóa thủy khí thành mồ hôi.
- Kỳ vinh vi sắc : Tâm huyết sung dưỡng, ngoài khí sắc đẹp hồng hào.
- Kỳ xú vi tiêu: Lửa thiêu vật chảy sanh mùi khê
- Kỳ số thất: Hà-đồ số bảy, số thành của Hỏa.
- Kỳ cốc thử: Lúa thử sắc đỏ, tánh ấm thuộc Hỏa.
- Kỳ súc mã : Ngựa loài súc thuộc Hỏa.
- Kỳ trung vũ Các loài cò lông cánh thuộc về phong hỏa.
- Kỳ thái cửu : Loại củ kiệu khí vị tân-ôn thuộc Hỏa.
TÂM KHÍ
Kinh Thiếu âm có Tâm và Thận đều giữ Nhiệt khí, Tâm sinh âm huyết, có sắc đỏ, (Hỏa) thuộc dương, nghĩa là khí nằm trong âm huyết, cũng như Thận Thủy sinh xuất dương khí, là âm trung hữu dương. Cho nên:
- Kinh Thiếu âm làm chủ Nhiệt khí, có công năng làm ấm áp kinh mạch, ôn nhuận cơ nhục, giúp tạng khí thăng giáng điều hòa. Tâm và Thận tương giao hóa khí đi lên hiệp với Can phong, dẫn huyết lưu hành, trợ Tỳ thổ tiêu hóa sinh cao du, nhiệt khí ấy cũng chế tiết Phế Kim, không quá hàn quá nhiệt, thành ra khí thanh kim mát mẻ tươi nhuận bì mao, hộ vệ tấu lý chống ngăn tà khi nơi ngoài khó xâm nhập.
- Nếu nhiệt khí của Tâm thái quá, sinh ra bạo nhiệt và phiền táo, thân mình bức rức, Thần minh hỗn loạn.
- Trái lại Nhiệt khí bất cập thì hàn thủy xâm lăn sẽ sanh chứng hàn quyết lãnh, tiết tả và thổ nghịch hoặc sưng thũng.
- Bởi thế nhiệt độ nơi Tâm cần phải giữ ôn độ, trung bình, kinh mạch mới lưu thông dinh vệ tuần hoàn được điều hòa. Nhiệt độ kém, thi hàn thấp sẽ ủng thịnh làm cho khí ngưng huyết trệ, sách gọi là: Tâm dương bất tuyên thông, thì các cơ quan khác, đều bị bế tắc.
CHỨC NĂNG CỦA TẠNG TÂM

Nội kinh nói: Chủ tàng thần và Tâm giả quân chủ chi quan, thần minh xuất yên. Nghĩa là : Tâm là nơi chứa Thần, Tâm làm chủ tể trong nhân thân, sự tri giác do Thần minh ở nơi Tâm mà ra.
- Tâm Thận tương giao sinh tinh hóa tủy, tinh tủy là tinh hoa của ngũ tạng, thượng chủ lên trên đầu óc, đầu óc là nơi làm chủ trì sự tri giác của nhân thân, các dây thần kinh đều liên hệ nơi ấy. Cho nên Thần minh quan sát sự vật, trí tưởng phân biệt tinh thô, đều là công năng của tạng Tâm, người định Tâm, dùng Thần minh suy tư mới sáng suốt, Tâm thể an, trí tịnh và định huệ mau tỏ ngộ.
- Đông y căn cứ vào : Tâm sanh huyết và Thận hóa khí, khí huyết hợp hóa sinh tinh hóa thần, tinh khí thần, đều do tinh hoa của Thủy-Hỏa và khí huyết sanh ra, cho đến tính mạng thọ yểu, cũng do sanh lực âm dương Thuỷ Hỏa giao tế và khí huyết dung bồi mà sống còn.
Sách nói: Âm bình dương bí, tinh thần nãi trệ, Âm dương ly quyết, tinh thần nãi tuyệt. Nghĩa là : Âm dương bình hòa tinh thần yên định, nếu âm dương thủy hỏa ly cách, thì tinh thần sẽ tuyệt diệt.
Tâm sanh huyết, do tân dịch nối Trung tiêu Tỳ Vị tiêu hóa đưa lên Phế xuống Tâm, Tâm hóa thành sắc đỏ tức là huyết, như thế là Tâm sinh huyết do trấp dịch của thủy cốc bồi bổ. Sách gọi: Hậu thiên bồi dưỡng khí-huyết.
Nội-kinh nói : Chư thống dương sang giai thuộc ư Tâm; Các chứng ghẻ chốc ngứa ngấy đều thuộc về bịnh nơi Tâm. Ghẻ do nhiệt uất huyết ngưng, làm ngăn trở khí phần khó tuyên thông và huyết cùng khí xung, động sinh đau, hoặc huyết hư nhiệt hiệp với phong kích động thành ngứa, đều là Tâm kinh huyết suy khi ủng mà sanh ra.
Tâm huyết lưu thông khắp cùng các kinh mạch, nếu huyết suy khí trệ sinh đau từ hung trung tràn xuống hai bên hiếp, đau trở lên Vai lưng, ra ngoài tay xuống hai chân toàn thể không nơi nào sót.
Nội Kinh nói: Tâm bịnh giã hung trung thống hiếp chi mãn, hiếp hạ thống ưng bối kiên áp gian thống, lưỡng tý nội thống bư tắc hung phúc đại, hiếp hạ dữ yêu tương dẫn nhi thống. Nghĩa là: Tâm bịnh thì trong hung và hiếp đau, rang xuống hai bên bệ sườn, trở lên ngực và ra vai hai cánh tay đau xốn trong bắp thịt. Vì khí trệ huyết ngưng mà sanh đau.
Nếu Tâm hỏa hư thì trọc thủy xông lên làm ũng tắc nơi Tâm hung cách mạc, khi bỉ Bụng đầy và sưng lên, phát đau trên hung dẫn xuống đến hiếp, lan ra sau lưng.
Tâm làm chủ tể các tạng. Tâm hư huyết kém, nhiệt khí bạo bức thì Thần không yên, nơi Tâm rối loạn buồn bực không vui và hay sợ sệt ít ngủ, khi nhắm mắt thì sinh mộng mị, nơi ngực nóng xót miệng lưỡi khô táo, sắc mặt đỏ phừng, ngoài da sinh ghẻ lở, khắp thân mình, và hai bàn tay nóng nảy, phong nhiệt xông lên trên bức huyết chảy máu cam và gân máu trong con mắt đỏ.
Cũng có bệnh do thất tình buồn lo thái quá làm tổn hại tinh thần.
Nội Kinh nói: Tâm truật dịch tư lự tắc thương thần, thần thương tắc khủng cụ tư thất phá khuẩn thoát nhục, mao tụy sắc yểu tử ư đông. Nghĩa là: Tâm vì lo lắng và kinh sợ làm tổn thương đến thân, âm dịch hao Thần không yên, thường hay kinh sợ, rối loạn trí óc, vì huyết dịch hao kém cơ nhục tiều tụy hết nhuận trạch, ấy là Thần hình đã suy thoát sẽ chết vê mùa Đông. Mùa Đông hàn thủy thịnh khắc hỏa nên Tâm bệnh chết về mùa đông.
PHÉP CHỮA BỆNH CỦA TÂM
Nội-Kinh nói : Hỏa nãi phát chi: vì hàn tà bế tắc nơi ngoài, nhiệt khí ủng tắc nơi trong, sinh uất hỏa, cần phải phát hãn cho nhiệt khí tan giải. Hỏa khí tính phát dương.
Hỏa khí tính phát dương thăng đạt, khí hành dẫn huyết lưu kinh mạch, nếu Tâm uất nhiệt sinh chứng can táo, phải dùng thuốc có vị mặn để nhu nhuận.
Nội kinh nói: Tâm nhục nhuyến, cấp thực hàm dĩ nhuyến chi dụng làm bổ chi, cam tả chi. Nghĩa là tâm bệnh cương thái quá, muốn dùng nhu nhuận cho mềm dịu lại, thì dùng vị mặn, loại thủy tân tư dưỡng âm, tư dưỡng âm huyết. Và vị ngọt bổ tỳ thổ, hỏa sinh thổ, trọ tỳ thổ là trừ bớt hỏa nhiệt nơi tâm.
THUỐC CHỮA BỆNH CỦA TÂM

Thủy Hỏa bất ký tế, là hỏa không nung thủy thì khó sinh tân hóa huyết. Tân dịch khô khan táo khát, nóng nảy xót xa, mặt và mắt đều đỏ, dùng Chi tử, (quả dành dành) hình giống Tâm, vị đắng khí hàn, lớp vỏ ngoài giống Tâm bào lạc, ruột nơi trong chất dẻo và đỏ, như sắc huyết, dùng tả Tâm nhiệt giải uất hỏa, trừ phiền táo hạ khí thông Tam tiêu chữa nóng xót (phiền nhiệt) rất hay. Liên Kiều vỏ ngoài và hạt nơi trong giống Tâm và Bào lạc, vị đắng tánh hàn, thanh giải huyết nhiệt, tư thủy nhuận táo.
Đạm đậu kỷ (đậu sắc đen) hột giống quả thận, chưng luyện nên, tánh chất nhẹ nhàng có công dụng tư thủy chế hỏa thăng tân dưỡng âm dịch, giáng hỏa giải phiền táo. Thủy suy hỏa viêm thiêu khô huyết dịch, cơ nhục thất dưỡng khô khan và nóng hầm hầm trong xương thành hư lao cốt chưng, dùng Địa cốt bì (rễ câu kỷ) loại cây chịu đựng về mùa Đông lá không rụng, có chất thủy âm rất nhiều, công dụng tư âm giải uất nhiệt và lao nhiệt nóng hằm hằm trong xương. Lá tri mẫu phơi nắng lâu khô vì nhiều chất nhuận, tư âm thanh nhiệt trừ phiên táo. Liên tâm (tim hột sen) nằm trong hột sen, công dụng vào Tâm thanh nhiệt và an thần.
Tâm nhiệt thái quá sanh nóng nảy bứt rứt Thần không yên, hoặc hôn mê rối loạn, dùng Hoàng liên vị rất đắng tính hàn vào Tâm tả hỏa giải bạo nhiệt. Bệnh nơi Tâm tà nhiệt nơi kinh Thiếu âm, có liên hệ đến Thận, cho nên dùng thuốc chữa Tâm, phần nhiều có những vị tư âm thủy, để chế hỏa. Nếu nhiệt khí quá bạo liệt, sẽ dùng thuốc hàn lương tả hỏa như: Hoàng liên, hoàng cầm, tạm thời chế hỏa, nếu nhiệt táo làm bế tắc dưới hạ tiêu, phải dùng thuốc hạ như: Đại hoàng, phác tiêu, để nhuận táo, công hạ thực nhiệt.
Cũng có chứng âm tân kém, tân dịch khô, phải dùng thuốc tư thủy bổ âm như : Sinh địa, huyền sâm, thiên môn, đan sâm đều là thuốc thanh lương có chất tư thuỷ nhuận táo.
Những nội dung trên đây được sưu tầm và biên soạn lại từ Nhân Thân khí hóa

