TỔNG QUAN TẠNG CAN TRONG ĐÔNG Y

25/07/2025 - admin

TỔNG QUAN TẠNG CAN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA ĐÔNG Y

Thân Hình, Gan, Giải Phẫu Học, Dạ Dày TẠNG CAN, GAN
Gan và tạng can

Can” trong Đông y là một khái niệm sinh lý học tổng hợp – phản ánh không chỉ giải phẫu lá gan mà còn bao gồm cả hệ thần kinh, cơ xương gân, mắt, tâm trạng, nội tiết và huyết dịch. Việc hiểu đúng “tạng Can” không chỉ giúp người học Đông y nắm vững bản chất tạng tượng, mà còn mở rộng góc nhìn lâm sàng, kết nối Đông – Tây y một cách sâu sắc và thiết thực.

1.Giải phẫu tạng can:

Sách Nan Kinh cho rằng: Can nặng hai cân bốn lạng (theo cân lạng xưa), bên tả ba lá, bên hữu bốn lá, có bảy lá, chủ tàng hồn.

2.Thuộc tính của Can:

Nội-Kinh nói:

  • Tại thiên vi phong: ở trên trời có phong khí.
  • Tại địa vi mộc: trên mặt đất nhờ phong khí cây cỏ sinh ra.
  • Tại thể vi cân: nhân thân có dây gân nối liền với xương do Can sinh ra gân.
  • Tại sắc vi thương: Can sắc xanh hơi vàng.
  • Tại âm vi dốc: Trong ngũ âm hợp với tiếng Dốc (mộc thanh), tiếng vang nghe xa.
  • Tại thanh vi hô: Thanh âm của Can là tiếng kêu la to.
  • Tại biến động vi ốc: Can lúc biến động sinh tay chới với và nắm lại.
  • Tại khiếu vi mục: Can thông khiếu lên đầu và ra nơi hai con mắt.
  • Tại vị vi toan: phong khi sinh các loại trái cây đều có vị chua.
  • Tại chí vi bi: Can khí uất sinh ý buồn thương.
  • Kỳ dịch vi lệ: Nước mắt là chất trấp dịch của Can.
  • Kỳ hoa tại trảo: Tính ba của gân sanh móng tay.
  • Kỳ xú thảo: Can khí tiết ra mùi khét của loài thú ăn cỏ.
  • Kỳ cốc vi mạch: Ngũ cốc thuộc về lúa mạch, thứ có nhiều gai nhọn.
  • Kỳ súc kê: Mục súc thuộc về loại gà có tính động phong.
  • Kỳ trùng mao: Thuộc về loài mao trùng có nhiều lông nhỏ.
  • Kỳ số bát: Hà đồ số ba sinh, số tám thành mộc.
  • Kỳ quả lý: Khí vị quả lý hợp bổ tạng Can.
  • Kỳ thái phỉ: Rau hẹ bẩm mộc khí, sanh về mùa xuân.

3. Can khí

chênh lệch áp suất là gì - cách gió hình thành
Sự hình thành gió – phong khí

Trong trời đất có phong khí, do hàn và nhiệt khí hấp dẫn mà sinh ra. Trong nhân thân phong khí bởi hàn nhiệt giao tác, ở trên là Tâm và Bào lạc thuộc Hỏa, dưới có Thận Thủy, Can giữ vai trò liên hệ, làm đường lối giao thông, khiến nhiệt khí trên Tâm hạ giáng, hàn khí dưới Thận thượng thăng, giữa hàn – nhiệt hấp dẫn sanh ra phong khí ôn hòa tức là kinh khí của Quyết Âm. Chữ Quyết Âm nghĩa là: Âm cùng tận (Âm tận Dương sinh), sinh xuất Dương khí, do sự tiến thóai của khí giao âm – dương thành ra phong khí.

Nếu Âm – Dương, Thủy – Hỏa bất hòa, tức là Can phong hạ hiệp với Thận Thủy sinh hàn phong, hoặc Can thượng thông Tâm Hỏa, sanh ra nhiệt phong. Ấy là triệu chứng phát bệnh: hàn quyết hoặc bạo nhiệt, hiện ra phong nhiệt và hàn phong, làm rối loạn trong tạng phủ và kinh mạch. Khi thì trên nóng dưới lạnh, hoặc trong nóng ngoài lạnh, phong động chuyền sang bên tả, thì gân rút làm quay quắp về bên hữu, tay chân câu cấp, miệng mắt méo xếch, vì phong theo Hỏa hóa, thành chứng tảo bạo như vậy, cùng các chứng cương cảnh, nhu cánh, bán thân bất toại cũng thế.

 

4. Chức năng sinh lý:

Nội-Kinh nói:

  • Can tàng huyết: Can chứa huyết. Huyết bởi Tâm sanh ra, lưu thông trong các kinh mạch, từ mạch Xung – Nhâm hội xuống Bào cung. Huyết hải đều thống thuộc về Can.
  • Can phong dẫn huyết chu lưu tân bố khắp cùng kinh mạch, tư dưỡng tạng phủ và cơ nhục đều do phong khí dẫn đạo.

Nan-Kinh nói:

  • Can chủ tàng hồn: Can tạng chứa hồn. Hồn là tinh tủy của khí huyết, thuộc Dương có khí thiêng.
  • Can thống huyết ở trong âm trấp có phần Dương khí tiềm tàng tức là Hồn. Dương khi ấy phát từ âm phần, hễ ban ngày thì hồn ra nơi mắt để hiểu biết sự vật, lúc ban đêm hồn về nơi Can an tĩnh, thì người được yên ngủ. Nếu Hỏa phát hồn bất an người không yên ngủ được, hoặc kinh động sợ sệt.

 

Nội-Kinh nói:

  • Can giả tướng quân chi quan, mưu lược xuất yên: Can làm chức tướng quân, mưu chước và suy tự do nơi Can mà ra.
  • Vì Can thống huyết thuộc âm tánh trầm tĩnh, trong Can có Đởm hỏa tức là Dương khí phát động nơi trọng trầm tĩnh. Cũng như người muốn suy nghĩ việc gì, trước hết phải yên lặng để tĩnh lự mới ra mưu kế. Hoặc là nhẫn nại hay là bạo dạn đều thuộc về Can khí động tĩnh sanh ra. Như nói người bạo dạn là Can đảm, người nhút nhát khiếp nhược là không có Gan, thiếu Đởm lược.

 

5. Bệnh học tạng can

Co cứng sau đột quỵ trúng phong
Đột quỵ

Nội-Kinh nói:

  • Chư phong trạo huyễn giai thuộc ư Can. Nghĩa là: Các chứng phong như xây xẩm, run giật đều thuộc về Can. Can tạng làm chủ phong khí, các chứng trúng phong, kinh phong, chuyển động co quắp, xây xẩm và run rẩy, đơ xuội đều thuộc về Can.
  • Can mạch thuộc Can kinh, mạch thông lưu khắp cùng nhân thể, ở trên đầu óc và hai con mắt đau nhức, hoặc hai lỗ tai lùng bùng, mắt xây xẩm chói lòa, tay chân chuyên động run rẩy đều là Can bệnh.

Nội-Kinh nói:

  • Can bệnh dã, lưỡng hiếp hạ thống dẫn thiếu phúc, lịnh nhân thiện nộ, hư tắc mục manh manh vô sở kiến, nhĩ vô sở văn, thiện khủng như tương bố chỉ. Nghĩa là: Can bệnh thì đau theo gân mạch từ Can cách thông xuống dạ dưới và lan ra hai bên hiếp, chạy xuống âm khí. Khi phát đau hay giận, nếu Can khí hư thì hai mắt mờ mịt, tai lùng bùng, thường hay kinh sợ, dường như ai đến bắt mình.
  • Can bệnh ở đàn ông hay mắt bệnh thất sán; đàn bà thì đau nơi mạch Đới, nặng trằn Tử cung, đau nơi dạ dưới. Can khí uất nghịch lên, bắt ứ nơi khẩu, mặt lộ sắc xám xanh, khí xung lên hông đầy. Khi hạ hãm sanh bệnh lỵ tật và tiết tả, hoặc khí uất thành lâm bế, tiểu tiện không thông.
  • Can làm chủ các tôn cân kinh mạch đều hội xuống âm khí và liên hệ lên gốc lưỡi. Can huyết thất dưỡng thì gân mạch đều khô tóp, thu rút lại, làm đau từ trên lưỡi dẫn xuống hòn ngoại thận.
  • Can khí tuyệt hiện ra sắc môi xanh, lưỡi thụt, dái teo là bệnh sắp chết.

 

6. Điều trị can bệnh

Xiao Yao San – Sinolux, produtos de qualidade MTC khai thông đạt khí can uất
Tiêu giao gia vị

Nội-Kinh nói:

Mộc uất đạt chi. Can khí thích thông đạt, nếu khi uất không thư thả, phải tùy kỳ khí dùng phép khai thông đạt khí.

  • Như uất trên Thượng tiêu thì dùng phép Thổ để nôn ra, khai thông lên trên.
  • Uất nơi Trung tiêu thì dùng phép Điều khí để thông nơi trong.
  • Uất dưới Hạ tiêu thì dùng phép Thông hạ, khí thông tự nhiên uất giải.

Nội-Kinh nói:

  • Can dục tán, cấp thực tân dĩ tán chi. Can khổ cấp, cấp thực cam dĩ hoãn chi. Nghĩa là: Can uất muốn thông tán ra, nên dùng thuốc có vị cay để tán ra. Bệnh nơi Can có khí cấp bức, dùng thuốc có vị ngọt làm hòa hoãn lại.
  • Phong khí cần phải ôn hòa. Nếu hàn khí thắng thành hàn phong, nhiệt xông lên đầu sanh bệnh nhức đầu và đau mắt, dùng vị Thương nhĩ (ké đầu ngựa), hình có chông gai tượng phong mộc, vị đắng mát, giải phong nhiệt, thể nhẹ khí thượng thăng, chữa trên đầu óc, hai con mắt đau nhức.
  • Nếu hàn phong khí lạnh xông lên đầu óc nặng nề đau nhức, dùng vị Xuyên khung, loại củ cây, khí vị cay ấm, thông lên đầu vào Can kinh điều giải hàn phong.
  • Hàn nhiệt kích động quá mạnh sanh bạo phong kinh giản, đầu mắt xây xẩm, tay chân quay quắp hoặc run giật thì dùng Thiên ma, loại cây cành thẳng cao, lúc có gió thì cành cây đứng im, lúc lặng gió tự nhiên dao động. Tánh khí hòa phong, vị cay ấm, giải tán phong nhiệt, trừ chứng xây xẩm trên đầu mặt.
  • Phong chuyển cân, do huyết khô, cân táo, thu rút lại, co bên tả, xoắn vặn bên hữu, dùng dây Cẩu đằng (dấu ó), loài bò leo có gai cong như câu móc, gai cong chạy vào nơi gân bị co rút làm lơi hoãn ra.
  • Phong chuyển vặn trong gân xương dùng Tân giao hình vạn xoe có nhiều chỉ gân, lóng và mắt giống xương gân của nhân thân, vị cay, khí ấm, chạy vào gân mạch
  • Phong khí uất, huyết ngưng, đau nơi cơ nhục và các khớp xương, dùng Phòng phong có nhiều chỉ gân giống thớ thịt, giải tán phong hàn và thông khí hành huyết.
  • Phong tà trúng tạng gọi là trúng phong, thình lình ngã ra bất tỉnh nhân sự, dùng Cương tằm (con tằm bị gió chết cứng) dùng chữa chứng cương cảnh, gân rút xương sống ưỡn cong lên.
  • Phong xâm vào gân xương, đau nhức hoặc đơ xuôi, cứng đờ, dùng xương cọp (hổ cốt), cọp có sức mạnh, nhảy mau lẹ như gió, dùng xương cọp chữa vào xương người đau nhức, đơ xuội.
  • Bệnh gân khô thu rút lại, khó duỗi ra, dùng Linh dương giác (sừng dê rừng, sắc lông trắng), con thú này lúc ngủ móc sừng dựa lên cây, chất sừng là nơi tinh lực gom tụ vào ấy rất mạnh, dùng chữa phong đơ rút và giải phong nhiệt rất hay.

Mấy vị thuốc kể trên đây dùng phép đồng khí tương cầu, có khí sắc tánh tương trợ hình chứng bệnh nhân, mượn lấy chữa vào người, giải trừ bệnh tật. Ngoài ra còn nhiều vị khí chất được kiêm dùng, là chữa cả phong hàn thấp và giải nhiệt trừ đàm, v.v…

 

Tin mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.
.
.