HIỆU ỨNG DUNNING KRUGER VỚI NGỘ TÍNH VÀ NGỘ NHẬN TRONG ĐÔNG Y
Gần đây, bạn cứ thấy kiểu nhan nhãn các bài viết về ngộ tính, ngộ tính cao, mà khoan …. Ngộ tính hay ngộ nhận???? hy vọng bài viết về hiệu ứng Dunning Kruger dưới đây có thể giúp bạn phân biệt được.
Bạn có để ý không, trong quá trình học tập nói chung và học về đông y nói riêng, có một hiện tượng là càng học nhiều, đôi khi người ta càng thấy mình biết nhiều làm như mình biết tất cả mọi thứ vậy, mọi thứ thật là đơn giản. Nhưng cũng một thời gian sau đó, càng tiếp tục đào sâu, mình lại càng thấy mình kiểu như “ngu hơn”, người ta lại càng thấy… mình chưa biết gì cả, và tiếp tục tiếp tục như vậy thì từng bước từng bước lại thấy mình cải thiện hơn ngày hôm qua, có bạn nào đã từng trải qua cái cảm giác đó chưa? Nếu có thì thật ra không có gì lạ đâu, hầu hết mọi người đều trải qua hiệu ứng như vậy trong quá trình học tập, và cái này là diễn tiến trong biểu đồ về hiệu ứng Dunning Kruger. Và mỗi người trong chúng ta có thể dừng ở đâu đó trong cái biểu đồ này.
I. TỔNG QUAN VỀ HIỆU ỨNG DUNNING – KRUGER
1. Vậy hiệu ứng này là gì?
Hiệu ứng Dunning-Kruger là một lỗi tâm lý khiến người biết ít tự tin thái quá, tưởng mình giỏi. Ngược lại, người có năng lực thật sự lại hay tự nghi ngờ chính mình. Biểu đồ của hiệu ứng này mô tả mức độ tự tin thay đổi qua các giai đoạn từ lúc bắt đầu học đến khi thực sự am hiểu một lĩnh vực.
2. Lịch sử bắt nguồn
Có một điều thú vị là hiệu ứng này Lịch sử hiệu ứng Dunning-Kruger bắt nguồn từ một vụ cướp ngân hàng hy hữu vào năm 1995 tại Pittsburgh, Mỹ. Tên cướp McArthur Wheeler đã hiên ngang đi cướp hai ngân hàng giữa ban ngày mà không hề đeo mặt nạ. Khi bị cảnh sát bắt giữ ngay trong đêm nhờ hình ảnh camera an ninh, Wheeler đã vô cùng sốc và thốt lên: “Nhưng tôi đã bôi nước chanh lên mặt rồi mà!”
Tại vì Kẻ cướp McArthur Wheeler tin rằng nước chanh có thể làm mực tàng hình, vì vậy nếu bôi nước chanh lên mặt thì camera an ninh cũng sẽ không thể ghi hình được anh ta. Thậm chí, anh ta đã thử nghiệm trước ở nhà bằng cách bôi nước chanh rồi chụp ảnh bằng máy Polaroid. Do chụp chệch hướng trần nhà (không có mặt mình), anh ta tin chắc lý thuyết của mình đã thành công.
II. HIỆU ỨNG DUNNING KRUGER TRONG ĐÔNG Y
1. Tại sao lại có bài viết này
- Đông Y giống như là một vùng đất màu mở, tạo điều kiện thuận lợi cho hiệu ứng này thể hiện vì sao thì ở phần 2 – nguyên nhân mình sẽ nói kỹ hơn, nhưng cơ bản là như thế này (Đông y có một hệ thống thuật ngữ cực kỳ phong phú dễ để diễn giải nhưng khó để kiểm chứng)
- Mình cũng từng trải qua rồi, mình mong rằng các bạn nếu có lỡ rơi vào trạng thái như mình trước đây cũng không cần phải hoang mang vì mất phương hướng và có thể phát triển lại một cách bền vững và nhanh chóng hơn, để trở thành một người thầy thuốc vững chuyên môn, thấu tình đạt lý.
Bây giờ mình sẽ thử cùng nhau tiếp cận và bóc tách vấn đề này theo góc độ của một người làm về lâm sàng.
2. Dấu hiệu nhận biết
Trước hết, biểu hiện và triệu chứng hay dấu hiệu nhận biết bản thân mình hay bạn bè người xung quanh mình có đang bị vấn đề này không
BẠN CÓ THỂ ĐÃ TỪNG TRẢI QUA, HOẶC TỪNG GẶP KIỂU NHƯ NÀY CHƯA?
Thường kiểu như sv năm 1 năm 2 mới học âm dương ngũ hành xong, cảm giác như có thể giải thích mọi thứ bằng nó, kiểu t biết mọi thứ rồi đó. Nm vốn dĩ tg này vô cùng rộng lớn mà mình bị lặm vào những cái đơn giản hóa, trong khi mình chưa thực sự hiểu đúng hiểu đủ bản chất của nó. Rồi có kiểu càng cố gắng dùng thuật ngữ chuyên ngành, càng đọc càng cố ghi nhớ những từ ngữ cơ chế phức tạp, càng tưởng mình hiểu về bản chất của nó, hiểu cơ chế sinh lý của nó, và khi không được phép sử dụng những thuật ngữ Đông y, mà bạn không có thể mô tả hiện tượng mà mình đang nói đến bằng ngôn ngữ quan sát? Thì bạn đang chỉ dừng lại ở việc gọi tên hiện tượng thay vì thực sự bạn hiểu bản chất của nó.
Ở một diễn biến khác thì một số người thì điều trị 1 case thành công, rồi lại cho đó là bằng chứng cho tính đúng đắn của cả hệ thống mà bỏ qua số ca đã thất bại trước đó. Tức là khả năng tái lập không được xác định hoặc thậm chí là không thể.
Ví dụ: Một bệnh nhân đến với triệu chứng đau cổ, sau khi được điều trị vài buổi và hết đau.
Người thầy thuốc nói: “Hàn đã được trục ra.”Bệnh nhân khỏi. Thế là câu chuyện được kể lại: “Đây là bằng chứng cho thấy Hàn khí gây co cơ.”
Nhưng khoan đã nhé, điều gì đang được quan sát ở đây: Bệnh nhân đau. Bệnh nhân được can thiệp. Bệnh nhân cải thiện. Đó là dữ kiện.
Còn: “Hàn khí xâm nhập.” “Hàn làm kinh lạc bế tắc.” “Khí huyết không thông.”đó là mô hình giải thích.
Hai thứ này không phải một. Bệnh nhân cải thiện không tự động chứng minh mô hình giải thích.
Đây là một lỗi rất thường gặp trong thực hành: Vậy thì nó có sai không?
Kết quả đúng được dùng để bảo vệ một lời giải thích chưa được chứng minh. Nó chưa hẵn là sai nhưng nó chưa phải là công cụ để kết luận.
Vậy thì dấu hiệu để nhận ra bạn có đang bị hiệu ứng này không là gì?
Thông thường kiểu hình chung của nhóm này là tự tin thái quá, đánh giá quá cao năng lực của bản thân mà không nhận ra những thiếu sót của chính mình, đồng thời không thể nhận ra năng lực thật sự của người khác.
Thông thường thì có 7 dấu hiệu sau thử quan sát lại mình và người bạn hoặc thậm chí là người thầy, hay người bác sĩ đang điều trị cho mình thử nhé.
- Tự tin cao nhưng nền tảng mỏng: điều này nghĩa là sao: Tự tin không phải vấn đề, Độ chắc chắn của phát biểu không tỷ lệ với độ chắc chắn của bằng chứng. cũng như câu chuyện đau cổ khi nãy, “Đau cổ vai gáy là do hàn tà xâm nhập, làm kinh lạc bế tắc, khí huyết không thông nên đau.” Nghe rất xuôi tai và hợp lý đúng không, tuy nhiên bạn thử hỏi tiếp cơ chế cụ thể là gì? Làm sao để phân biệt hàn với những nguyên nhân khác, hoặc là có biểu hiện giống hàn nhưng là do một nguyên nhân khác, hoặc là nguyên nhân do hàn nhưng phép điều trị như thông thường lại không đáp ứng, nếu giả thuyết đó la đúng thì điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.
- Không nhận ra lỗ hổng trong chính lập luận của mình? Đây mới là điểm đáng chú ý này. Thường đứng trước câu trả lời, khi bị hỏi ngược lại “anh có chắc về điều đó không” bạn hoàn toàn có thể trả lời không chắc và kiểm tra lại, còn người kiểu này có thể sẽ không nhìn thấy lý do để kiểm tra lại câu trả lời của mình.
- Đánh giá thấp người có chuyên môn thật. Có một kiểu giống như này, thường khi ta mới tiếp cận, hay mới học cái gì đó, ta thường bị thu hút hoặc yêu thích những lời giải thích đơn giản, gọn, có vẻ chắc chắc.Trong khi những người chinh chiến lâu năm thường sẽ hay nói ““Còn tùy.”“Phải loại trừ cái này.”“Trường hợp này chưa đủ dữ kiện.” “Không thể kết luận chỉ từ triệu chứng đó.”…) kiểu lúc đó ta lại nghĩ sao cha này thích làm phức tạp vấn đề. Nhưng có một thực tế là “Người mới thấy vấn đề đơn giản vì họ chưa nhìn thấy các biến số.” và có những vấn đề không được phép đơn giản hóa.
- Nhầm lẫn giữa việc quen tai và hiểu. Bất thông tắc thống, thuật ngữ đông y … khi hỏi về bản chất hoặc thay đổi bối cảnh vận dụng thì không trả lời được.
- Không có cơ chế tự kiểm tra sai số. Người có bình thường có: Tiêu chuẩn kiểm chứng, Thói quen so sánh với dữ liệu/thực tế. Ngược lại, người đang trong vùng Dunning–Kruger: Dựa nhiều vào cảm giác đúng Ít khi kiểm tra lại kết luận. Trong học tập, chẩn đoán hay điều trị chúng ta thường chỉ hỏi “bệnh nhân này bị gì? Mà quên đi rằng “tôi có thể sai ở đâu trong chẩn đoán này” trên lâm sàng có bằng chứng nào đang chống lại chẩn đoán của tôi? Tại sao? Đó là sự khác nhau giữa bằng chứng cho niềm tin và kiểm tra niềm tin
- Càng học nữa.. càng ít thay đổi quan điểm. Bình thường ta sẽ nghĩ là học nhiều hơn, biết nhiều hơn, quan điểm sẽ chắc chắn hơn. Nhưng có 1 nghịch lý đó chính là, vẫn có thể xuất hiện nhóm càng học càng có thêm lý lẽ để bảo vệ cái cũ. Cụ thể trong học tập đông y, mình thấy có hiện tượng như thế này, khi học người ta có một niềm tin rằng đông y luôn đúng, mọi thứ không nằm ngoài lý luận của Đông Y. Tuy nhiên càng học, thay vì đặt dấu hỏi về nguồn gốc, bản chất và ngoại lệ và sự mâu thuẩn trong các thường phái của lý luận thì với những hiểu biết về thuật ngữ; trích dẫn; kinh điển;câu chuyện lâm sàng ;trường phái; cơ chế diễn giải; lại khiến một bộ phận bảo vệ niềm tin ban đầu và điều đáng nói là thay vì để việc học là sự cập nhật mỗi ngày thì nay nó trở thành công cụ gia cố niềm tin.
- Đơn giản hóa đúng sai Việc đơn giản hóa nó không hề sai, thậm chí một người thầy giỏi là người thầy biết cách đơn giản hóa nhé, nhưng vấn đề ở đây là đơn giản hóa để hiểu vấn đề thì việc đơn giản này làm sai lệch bản chất và truyền đạt thông tin một cách sai lệch? Đặt biệt ngôn ngữ chuyên môn của Đông Y dạo gần đây bị lạm dụng việc đơn giản hóa khá bừa bãi, đơn cữ như Trúng hàn.
3. Nguyên nhân và cơ chế
Thường thì mình sẽ nghĩ nguyên nhân đến từ cá nhân người mắc hiệu ứng đúng không. Nhưng nếu nhìn rộng ra hơn thì có thể thấy không chỉ cá nhân mà còn môi trường nữa. Tựu chung lại mình thấy có 3 nguyên nhân đáng chú ý
- Chưa đủ thành thạo/hiểu biết trong lĩnh vực đó, nên họ chưa thể đưa ra đánh giá chính xác về mình. => không nhìn thấy mình thiếu gì.
- Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ việc họ thiếu đi một hệ quy chiếu khách quan đáng tin cậy và mang tính tính định lượng, để có thể dựa vào đó mà đánh giá chất lượng công việc/học tập của mình.=> không biết mình đang làm tốt đến đâu
- Nguyên nhân thứ : người học ít được đặt trước những tiêu chuẩn độc lập và những phản biện đủ mạnh để phát hiện, sửa chữa sai lầm của chính mình.=> không có lực kéo mình ra khỏi sai lầm., không phát hiện được người có năng lực, người hướng dẫn để giúp đỡ mình
4. Cách khắc phục
Biết lắng nghe, tiếp nhận đóng góp của người khác, rèn luyện tư duy phản biện và luôn học hỏi không ngừng. Thay vì nói phải đọc hay phải học thật nhiều thì cần thay đổi cách tiếp cận vấn đề, cách học, cách làm.
Cụ thể này là kinh nghiệm mà mình đúc kết được trong quá trình học tập và làm việc của mình nhé
- Thay vì học để biết câu trả lời là gì thì hãy hỏi bản thân mình biết điều đó bằng cách nào, người khác biết điều đó bằng cách nào. Ví dụ như những tri thức trong nội kinh, khi đọc thay vì mình ghi nhận nó, thì mình ngẫm xem người viết biết nó bằng cách nào? Hậu thế biết cả cuốn nội kinh bằng cách nào
- Buộc bản thân phải tiên lượng và dự hậu được. Thay vì dự đoán ng mắc chứng này, pháp trị là như này, thì ta phải hỏi nếu giả thuyết mình đưa ra là đúng thì điều gì sẽ sảy ra tiếp theo. Ban đầu mình cũng có ép bản thân luôn đúng, nhưng điều đó là không thể. Thay vào đó mình vẫn giữ lý tưởng cốt lõi, chuyển nó từ việc ép luôn đúng thì cố gắng phát hiện sớm sai lầm và sửa chữa sai lầm đó
- Phải biết minh bạch chuyện bạn quan sát thực tế với chuyện bạn diễn giải mang tính chủ quan
- Biết cách nghiên cứu lịch sử để giảm tính giáo điều khi học đông y. thường ta gắng Đông y với thiên sách dày theo đời sau ca tụng là tứ đại y thư. Nhưng nếu dùng con mắt nghiên cứu lịch sử để nhìn vào bản chất thì có thể bạn sẽ bớt đi phần nào niềm tin tuyệt đối và bớt coi nó như một bộ kinh thư kinh điển, chân lý tuyệt đối.
Đông y cũng từng tranh luận với chính nó. Có trường phái khác nhau. Có khái niệm thay đổi. Có lý thuyết bị thay thế. Có cách hiểu mới xuất hiện. Và điều đó rất tốt. Bởi vì khi thấy lịch sử của một hệ thống, ta không còn coi nó như một khối chân lý bất biến.
Hãy học tập và làm việc trên tinh thần của một nhà khoa học.
Không phải áp dụng khoa học để bài xích mà làm sáng tỏ những chỗ có thể sáng tỏ được, để mọi người có thể tiếp cận với đông y một cách gần sự thật nhất và tránh lỗi huyền bí, thần thánh hóa đông y. Thay vì nói Đông Y đúng hay sai mà khoa học là công cụ để giúp chúng ta“phân biệt được đâu là quan sát, cái gì là kinh nghiệm, cái gì là giả thuyết, cái gì đã có bằng chứng. Giữ cái có giá trị, sửa cái chưa đúng, bỏ cái không đứng vững.
Đó mới là học khoa học để làm Đông y tốt hơn.
Bạn có thể nghe video sau, và để lại ý kiến cho chúng ta cùng nhau tiến bộ nhé.

