Gần đây, hoàng kỳ nam, hay còn được người dân gọi bằng những cái tên rất mộc mạc như cây vú bò, được nhiều người dân ở vùng quê Việt Nam biết đến và tìm kiếm nhiều hơn. Không chỉ vì những lời đồn về công dụng bồi bổ của nó, mà còn bởi mùi hương đặc trưng ngọt dịu, thơm béo và rất dễ chịu.

Hoàng kỳ nam lạ mà quen
Thực ra, loài cây này không quá xa lạ với những người lớn lên ở miền quê. Ngày còn nhỏ, khi còn đi chăn trâu cùng lũ bạn, mỗi khi ngồi trên lưng trâu, nhìn nó ăn hết cây này đến cây khác, tôi cũng có đôi chút tò mò, nhưng rồi ham chơi nên chẳng mấy bận tâm. Có lần, tôi bắt gặp nó ăn một cây trông khá giống cây sung cũng giống cây ngái. Trên cây lủng lẳng những trái nhỏ xíu, xanh, vàng, đỏ – trông chẳng khác cây đen giao thông.
Nghĩ bụng chắc là ăn được, tôi hái vội định bỏ vào miệng. Nhưng mẹ tôi thấy vậy liền ngăn lại, bảo: “quả cứt chó đó!” Thế là từ hôm ấy, trong đầu đứa trẻ con, nó lập tức bị cho vào “danh sách đen”.
Nhiều năm sau, không còn đi chăn trâu nữa, khi bước chân vào nghề thầy thuốc, thỉnh thoảng về thăm quê nhà, tôi lại lang thang trong rừng tìm dược liệu, tìm cây này cây nọ, và rồi tôi gặp lại nó. Vẫn là cái cây năm xưa, nhưng lần này dưới một cái tên khác, và với một cái nhìn hoàn toàn khác.
Nhưng có một sự thật mà ít ai biết rằng, lần đầu tiên loài cây này được ghi nhận không đâu khác chính là cuốn trong Tuệ Tĩnh Toàn tập (khoảng thế kỷ XIV), ngay trong phần Nam Dược Quốc Âm Phú, ghi dấu một loại cây dược liệu gắn bó với vùng Nam bang.
Từ cây bụi mọc hoang đến cây thuốc quý được săn đón
Hoàng kỳ nam có tên khoa học là Ficus hirta, thuộc họ Moraceae. Cây mọc hoang khá nhiều ở các vùng rừng nhiệt đới Đông Nam Á, đặc biệt ở Việt Nam, nó thường gặp ở các vùng đồi núi và rừng thứ sinh. Bộ phận được dùng làm dược liệu chủ yếu là rễ, khi phơi khô có mùi thơm đặc trưng, vị hơi ngọt và béo.
Điều thú vị là loài cây mọc hoang khá phổ biến này lại được sử dụng khá rộng rãi trong ẩm thực dưỡng sinh của miền Nam Trung Quốc, đặc biệt tại tỉnh Quảng Đông, nơi người ta thường gọi nó bằng tên Ngũ chỉ mao đào và xem như một vị thuốc bồi bổ trong các món canh thuốc.
Tôi lục tìm về những cuốn dược thư trong và ngoài nước, để nghiên cứu về loại cây quá đổi quen thuộc với mình. Lần đầu tiên tôi thấy nó xuất hiện trong Toàn quốc Trung thảo dược tân biên (1975), sau đó lại gặp trong cuốn Lĩnh nam chích thảo (1932), và rồi khi bắt gặp nó với cái tên Ngũ trảo long trong cuốn Sinh thảo dược tính bị yếu của Hà Khắc Giản (1711) mà hầu như các tài liệu cổ hơn như thần nông bản thảo hay bản thảo cương mục của Lý thời trân chưa thấy đề cập đến.
Và rồi tôi nghĩ rằng đây là tài liệu sớm nhất phát hiện và ghi nhận tính vị cũng như tác dụng của nó, cũng phù hợp việc người người ca tụng nó là nhân sâm của vùng Quảng Đông.

Từ cổ truyền đến hiện đại
Hoàng kỳ nam trong y học cổ truyền được cho là có tính bình, vị ngọt.
Có tác dụng:
- Kiện tỳ bổ phế
- Hành khí lợi thấp
- thư cân hoạt lạc
Dùng trong trường hợp tỳ hư gây phù thũng, người ăn ít hay cảm giác mệt mỏi vô lực, phế lao khái thấu, ra mồ hôi trộm, đới hạ, sau sinh không có sữa, phong thấp tý thống, thủy thũng, xơ gan cổ chướng, viêm gan, trật đả tổn thương.
Lĩnh Nam bản thảo (TK 15–16) mô tả rễ “hành khí hoạt huyết, thông sữa, trừ thấp tiêu ứ”. Đỗ Tất Lợi trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam ghi: chủ trị tắc sữa, ứ huyết, phong thấp tê bại, bạch đới” .
Những năm gần đây, hoàng kỳ nam bắt đầu được nghiên cứu dưới góc nhìn hóa sinh và dược lý. Các phân tích thành phần cho thấy rễ chứa nhiều hợp chất như: triterpenoid, flavonoid, coumarin, alcaloid, phenol, saponin … Một số nghiên cứu bước đầu ghi nhận khả năng: chống viêm, chống oxy hóa, giảm đau, lợi sữa.
Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này mới dừng lại ở mô hình thử nghiệm in vitro hoặc trên động vật, vì vậy vẫn cần thêm các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn để xác nhận đầy đủ hiệu quả và độ an toàn khi sử dụng trên người. Dù vậy, những kết quả ban đầu cũng phần nào cho thấy một số kinh nghiệm sử dụng trong dân gian là đúng với thực nghiệm.
Hoàng kỳ nam trong dân gian
Thực tế trong dân gian, hoàng kỳ nam được dùng khá nhiều trong ẩm thực dưỡng sinh, nhất là tại Trung Quốc vì họ cho rằng công dụng chính của nó là bồi bổ, dùng cho những người mắc hư lao, bạch đới, khí hư.Ngoài ra ở Việt Nam nó còn được ngâm rượu để trị phong thấp, đau nhức xương khớp, suy nhược khí huyết, hoặc dùng cây tươi đắp vùng bầm sưng ứ huyết do chấn thương, viêm tuyến vú sơ khởi.
Điều thú vị nằm ở chỗ: nó không phải là một dược liệu nổi tiếng trong các bản thảo cổ điển, cũng không phải một cây thuốc quý hiếm. Thường bị bỏ qua, nhưng khi nhìn lại bằng con mắt của người làm nghề y, nó hiện ra với một mảnh nhỏ của tri thức dược liệu bản địa, nơi kinh nghiệm dân gian, y thư cổ và nghiên cứu khoa học dần gặp nhau theo thời gian.
Và hoàng kỳ nam trở thành loại thảo mộc không thể thiếu trong trà bổ khí của nhà An Nam

