Với mong muốn tiếp cận sự vật, sự việc một cách khách quan và trung thực. ANYQ đề cao những giá trị lịch sử có thật, còn với văn hóa truyền miệng, thần thoại không chứng minh được nguồn gốc sẽ được tôn trọng nhưng chỉ mang giá trị tham khảo. Như thần thoại về Phục Hy dưới đây, sách vở viết nhiều đến nổi ta làm tưởng rằng ông là nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa, là một trong “Tam Hoàng Ngũ Đế”, và được cho là vị tổ đầu tiên của nền văn minh Trung Hoa. Tuy nhiên thực tế thì không có tư liệu khảo cổ, ghi chép đương đại nào đề cập tới Phục Hy trong thời đại của ông.
Để hiểu hơn về nhân vật này, cùng ANYQ điểm qua những hiểu biết về Phục Hy và những mâu thuẫn trong nội tại thần thoại đến giá trị văn hóa, khoa học ngày nay liên quan đến Phục Hy. Và đọc thêm về LƯỢC SỬ Y HỌC

NHỮNG ĐIỂM ĐƯỢC GHI CHÉP VÀ LƯU TRUYỀN VỀ HUYỀN THOẠI PHỤC HY
Phục Hi (伏羲 khoảng 4480-4369 năm TCN) là một vị thần trong các thần tích Trung Hoa. Ông thường được xem là người đầu tiên và đứng đầu trong các thuyết về Tam Hoàng Ngũ Đế của dân tộc Hoa Hạ. Ông là một hình tượng lớn và nổi tiếng vì người Trung Hoa cho rằng Phục Hy là người sáng lập văn minh Trung Hoa. Có ý kiến cho rằng rằng Phục Hy là Bàn Cổ. Các học giả đã nghiên cứu Bàn Cổ từ góc độ triết học và ý nghĩa cổ xưa là sự khởi đầu, là quả bầu, có nghĩa là sự tái tạo của sự sống.
Trong thần thoại, ông cũng được coi là tổ tiên của tất cả loài người. Ông được cho là người phát minh ra chữ viết, nghề đánh bắt cá và bẫy thú. Ông cũng được cho là sáng tạo dịch lý. Về hình dạng, ông thường được mô tả là thân rồng đầu người, hoặc thân rắn đầu người, nhân thế được người đời sau xưng là Long tổ (龍祖). Phục Hy cũng là vật tổ của con chim bí ẩn. Ông sinh ra tại Thành Kỷ (成紀, nay có lẽ là Thiên Thủy, Cam Túc) sau dời tới Trần Thương (陳倉). Đóng đô tại đất Trần Uyển Khâu (nay là Hoài Dương, Hà Nam). Nơi an táng: ở phía bắc thành Hoài Dương ba km (nay là phía Tây Nam, huyện Hoài Dương, tỉnh Hà Nam.
Theo Sơn hải kinh, Phục Hy và Nữ Oa lại là một người bình thường sống ở một ngọn núi hư cấu mang tên Côn Lôn. Một ngày, họ đốt lửa ở hai nhánh cây khác nhau và tự dưng hai ngọn lửa lại hòa làm một. Từ đó, họ quyết định trở thành vợ chồng. Cả hai nặn hình người đất và ban sự sống cho chúng, từ người đất thì loài người đã được sinh ra.
Phục Hy được cho là đã phát hiện cấu trúc Bát quái từ các dấu trên lưng một con Long mã (có sách viết là một con rùa) nổi lên từ dưới sông Lạc Hà, một sông nhánh của Hoàng Hà. Cách sắp xếp Bát quái này đã sinh ra Kinh Dịch trong thời nhà Chu. Phát kiến này còn được cho là nguồn gốc của thư pháp. Sách Bạch hổ thông nghĩa (白虎通義) của Ban Cố (32 – 92), thời đầu của nhà Hậu Hán, đã viết về tầm quan trọng của Phục Hy như sau:” Thời đầu sơ khai, xã hội còn chưa có đạo đức hay trật tự xã hội. Người chỉ biết đến mẹ, không biết cha.
Khi đói, người ta tìm thức ăn, khi thỏa mãn, người ta vứt đồ còn lại. Họ ăn thịt cả lông, uống máu, và che thân bằng da thú và vỏ cây. Rồi Phục Hy đến, Ông hợp chồng với vợ, sắp đặt ngũ hành, và đề ra luật lệ cho con người. Nhìn lên ngắm trời, nhìn xuống ngắm đất, Ông đề ra bát quái, để thu tóm sự thống trị thiên hạ.” Còn theo huyền sử sau khi Phục Hy chết, con cháu ông men theo phía bắc bờ sông Hoài tiến xuống hạ lưu sông Hoàng Hà, khống chế một giải vùng hạ lưu Tế Thủy.Thời Xuân Thu xây dựng được 4 vương quốc nhỏ. Truyền được 15 đời, tổng cộng 1260 năm.” (Dẫn từ Wikipedia tiếng Việt và tiếng Trung)
NHỮNG ĐIỂM KHÔNG NHẤT QUÁN TRONG CHÍNH NỘI TẠI HUYỀN THOẠI PHỤC HY
QUÁ NHIỀU GIẢ THUYẾT VỀ THÂN THẾ VÀ NGUỒN GỐC CỦA PHỤC HY
Một giả thuyết cho rằng Phục Hy là Bàn Cổ, Phục Hy và Nữ Oa là anh em, dạy mọi người cách đan lưới, đánh cá, săn bắn và chăn nuôi, và tạo ra Bát Quái, Người ta cũng nói rằng Phục Hy đã tạo ra các ký tự và đàn cổ. [ 1 ]
Tuy nhiên trong những giả thuyết trên có nhiều điểm mâu thuẫn với sử liệu cũng như thiếu nền tảng khảo chứng rõ ràng.
- Phục Hy là Bàn Cổ mâu thuẫn đồng hóa thần thoại: Trong khi Lễ Ký, Hoài Nam Tử, Thuyết Văn Giải Tự đều phân biệt rõ Phục Hy là một hình tượng độc lập. Trong khi Bàn Cổ (盤古) xuất hiện đầu tiên trong Tam Ngũ Lịch Kỷ (三五历纪) thì Phục Hy được nhắc tới sớm hơn rất nhiều với hình tượng và vai trò rõ ràng trong Lễ Ký – Lễ Vận, biên soạn cuối thời Chiến Quốc – đầu Tây Hán (TK 3–2 TCN).
- Phục Hy và Nữ Oa là anh em: Trong khi Sơn Hải Kinh Nữ Oa là nữ thần vá trời, có vai trò độc lập, không gắn trực tiếp với Phục Hy, thì trong dân gian truyền miệng lại cho rằng Nữ Oa là em gái hoặc phối ngẫu của Phục Hy, trong khi Hoài Nam Tử lại cho rằng họ có công “thay trời hành đạo mà không đề cập đến việc họ có quan huyết thống.
- Phục Hy dạy đan lưới, đánh cá, săn bắn, chăn nuôi, là biểu tượng huyền thoại hóa tiến trình văn minh, không phản ánh sự kiện cá nhân. Không có bằng chứng khảo cổ hay văn bản đương đại nào xác nhận rằng những kỹ thuật trên có liên hệ trực tiếp với một nhân vật lịch sử tên “Phục Hy
- Phục Hy tạo ra bát quái còn nhiều điều mơ hồ và chưa lý giải được. Nếu Phục Hy là người sáng tạo Bát Quái, vì sao kinh dịch gốc được tạo ra bởi Chu gia, không có đoạn nào nhắc đến tên ông? Không có văn vật khảo cổ nào cho thấy Bát Quái của Phục Hy đã tồn tại từ thời thượng cổ. Thậm chí một số học giả Trung Hoa cũng phản bác việc cho rằng Phục Hy là người sáng tạo ra Bát Quái như “Quách Mạt Nhược, Trương Thái Viêm. Tuy nhiên dịch học bắt nguồn từ đâu, thời gian nào vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.
Chính việc tồn tại quá nhiều mâu thuẫn trong các truyền thuyết xoay quanh Phục Hy từ lai lịch, thân thế, cho đến những công lao như sáng tạo Bát Quái, phát minh chữ viết, hay khai sáng văn minh loài người cho thấy đây không đơn thuần là một nhân vật lịch sử cụ thể. Mà đúng hơn, Phục Hy là hình ảnh được huyền thoại hóa, rồi dần dần được dựng lên và gán ghép thêm ý nghĩa theo từng thời kỳ lịch sử, phục vụ các mục tiêu văn hóa, chính trị, thậm chí cả triết học.
Nói cách khác, Phục Hy không phải là một con người thực với tiểu sử rõ ràng như chúng ta biết về Tần Thủy Hoàng hay Khổng Tử, mà là một “biểu tượng linh hoạt” – một loại khuôn mẫu mà mỗi triều đại, mỗi học phái lại đắp thêm một lớp ý nghĩa mới. Lúc thì ông là thủy tổ văn minh, khi lại là người dạy dân đan lưới bắt cá; có khi là anh trai của Nữ Oa, lúc lại là chồng của bà. Thậm chí, đến thời nhà Hán, ông còn được Nho gia “thánh hóa” để hợp thức hóa Dịch học – biến nó thành di sản từ thời viễn cổ.
Vấn đề đặt ra là: Nếu một nhân vật có thể bị “dẻo nặn” và biến hóa dễ dàng như vậy, thì đâu là giới hạn giữa huyền thoại và sự thật? Và khi sự thật không được xác minh bằng bằng chứng khảo cổ hay sử liệu đáng tin cậy, thì mọi nỗ lực gán danh hiệu “sáng tổ Dịch học”, hay “vua đầu tiên của Hoa Hạ” cho Phục Hy suy cho cùng chỉ phản ánh nhu cầu xây dựng căn tính lịch sử của một dân tộc hơn là phản ánh chính lịch sử.
Nhìn từ lăng kính khoa học, đó là bài học sâu sắc về cách mà các nền văn minh đã “chế tác” nên lịch sử – không chỉ bằng sự kiện, mà bằng biểu tượng. Và Phục Hy, với tất cả sự mâu thuẫn xung quanh ông, cũng là một biểu tượng điển hình như thế.
Tạo ra huyền thoại, người xưa đã khôn ngoan dùng những “bao bì” khác nhau gói bọc sự kiện lịch sử để đưa lên con tàu thời gian gửi cho mai sau. Công việc hôm nay là tháo gỡ những lớp bao bì để tìm ra sự thật cốt lõi bên trong. Thực trạng trên là động lực để nhiều học giả tìm hướng phục hồi lại nền văn minh cổ, truy tìm và khôi phục diện mạo của Phục Hy, trong đó có tác giả đến từ trang web nghiên cứu lịch sử [ 2 ] , tác giả dẫn chứng nhiều luận điểm táo bạo về Phục Hy, trong đó gắn ông với người Việt, vươn lên từ văn hóa Ngưỡng Thiều, giữ truyền thống “mông là thủy tổ”.

