MÓNG LÕM HÌNH THÌA KHÔNG CHỈ LÀ THIẾU MÁU

05/04/2025 - admin

Móng lõm hình thìa thiếu máu thiếu sắt

Khi nhắc đến móng lõm hình thìa (bao gồm cả móng tay hoặc móng chân), mọi người đều nghĩ ngay đến thiếu máu thiếu sắt, tuy nhiên hiện nay có rất ít bằng chứng chứng minh móng lõm hình thìa là một dấu hiệu trong thiếu máu thiếu sắt.

Móng lõm hình thìa có tên là “Koilonychia – Spooned nail”, là triệu chứng có liên quan đến mềm giường và chất nền móng tay, nhưng chưa giải thích rõ ràng sự liên quan này. Nó có thể được tìm thấy ở trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn. Khi một bệnh nhân xuất hiện triệu chứng này, điều bắt buộc là phải xem xét thêm để xem liệu có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn có thể xảy ra hay không.

I. DẤU HIỆU

Đặc điểm nhận biết là tình trạng cong bất thường của móng tay, mất căng vồng chiều dọc và bên của ngón, kèm theo mỏng móng tay ở phần xa, đây có thể là dấu hiệu của một bệnh toàn thân tiềm ẩn đòi hỏi phải đánh giá toàn thân kỹ lưỡng đối với bệnh nhân bị móng lõm hình thìa trước khi bắt đầu bất kỳ liệu pháp nào.

II. CƠ CHẾ

Có một số cơ chế được xem xét bao gồm bệnh lý về da nguyên phát, thiếu hụt metalloenzyme hoặc axit amin chứa lưu huỳnh, thay đổi nền móng do bất thường lưu lượng máu (tuổi tác, thay đổi thần kinh hoặc mạch máu), bệnh lý nội tiết và chấn thương.

Nó cũng có thể liên quan đến lưu lượng máu đến ngón tay kém gây nên sự suy yếu và phá vỡ liên tiếp của mô liên kết dưới móng, đỉnh điểm là sự đè nén của nền móng xa hoặc giảm sắt trong các enzyme chứa sắt của các tế bào biểu mô. Một giả thuyết khác nhấn mạnh đến áp lực cơ học gây ra sự biến dạng hướng lên của các phiến móng mềm thiếu sắt ở bên và xa.

III. NGUYÊN NHÂN

Ngoài nguyên nhân thường gặp là do biến đổi biến đổi sinh lý bình thường, hay ảnh hưởng nghề nghiệp thì còn có một số nguyên nhân ít gặp như thiếu máu thiếu sắt, bệnh tích lũy sắt, hay hội chứng Raynaud’s, Liken phẳng, nấm móng, hay một số bệnh lý nguy hiểm như PVS .

Hội chứng Plummer–Vinson (PVS): Còn được gọi là hội chứng Paterson–Kelly, là một thực thể hiếm gặp được đặc trưng bởi bộ ba thiếu máu do thiếu sắt, khó nuốt và màng thực quản. Koilonychia có thể là dấu hiệu biểu hiện và gần như được nhìn thấy ở 37–50% các trường hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. JALILI MA, AL-KASSAB S. Koilonychia and cystine content of nails. Lancet. 1959 Aug 15;2(7094):108-10. [PubMed]
  1. Stone OJ. Clubbing and koilonychia. Dermatol Clin. 1985 Jul;3(3):485-90. [PubMed]
  1. STONE OJ, MABERRY JD. SPOON NAILS AND CLUBBING. REVIEW AND POSSIBLE STRUCTURAL MECHANISMS. Tex State J Med. 1965 Aug;61:620-7. [PubMed]
  1. Chelidze K, Lipner SR. The water-drop test for the diagnosis of koilonychia. J Am Acad Dermatol. 2017 Dec;77(6):e157-e158. [PubMed]
  1. Razmi TM, De D. Bead retention test in koilonychia. Indian J Dermatol Venereol Leprol. 2019 Mar-Apr;85(2):229-230. [PubMed]
  1. Wagner G, Rose C, Sachse MM. Clinical variants of lichen planus. J Dtsch Dermatol Ges. 2013 Apr;11(4):309-19. [PubMed]
  2. Walker J, Baran R, Vélez N, Jellinek N. Koilonychia: an update on pathophysiology, differential diagnosis and clinical relevance. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2016 Nov;30(11):1985-1991. [PubMed]
  3. Kundu AK. High altitude koilonychia developing as a result of cold environment and hypoxia–a fact or a myth? J Assoc Physicians India. 2000 Apr;48(4):457-8. [PubMed]
  4. Kuryliszyn-Moskal A, Ciołkiewicz M, Dubicki A. [Morphological alterations in nailfold capillaroscopy and the clinical picture of vascular involvement in autoimmune diseases: systemic lupus erythematosus and type 1 diabetes]. Ann Acad Med Stetin. 2010;56 Suppl 1:73-9.

 

Tin mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.
.
.