HOÀNG TINH 黄精

11/06/2025 - admin

HOÀNG TINH DƯỢC PHẨM CHO BẬC TU TIÊN

Hoàng tinh chế
Hoàng tinh chế

 

Hoàng tinh luôn không thể thiếu trong các câu chuyện tu luyện của Đạo giáo. Trong mắt các chuyên gia sức khỏe thời xưa, Hoàng tinh là một thứ tốt cho tuổi thọ, có thể làm no bụng, nên các Đạo sĩ thời xưa thường dùng nó làm thức ăn trong thời kỳ ăn chay, vì vậy Đào Hoằng Cảnh, một nhà y gia nổi tiếng thời Nam Bắc Triều, cũng gọi nó là “Tiên nhân dư lương”. Sau đó Lý Thời Trân cũng đã ghi lại câu chuyện về Hoàng tinh “Cửu phục thành tiên” trong “Bản thảo cương mục”. Để hiểu tại sao nói như vậy, hãy tham khảo bài viết bên dưới về hoàng tinh.

I. TÊN GỌI KHÁC

Long hàm, bạch cập, thỏ trúc, thùy châu, kê cách, mễ bô, nhung trúc, cứu cùng, mậu kỷ chi, nuy nhuy, cẩu cách, mã tiễn, tiên nhân dư lương, khí tinh, hoàng chi, sinh khương, dã sinh khương, dã tiên khương, sơn sinh khương, ngọc trúc hoàng tinh, bạch cập hoàng tinh, thổ linh chi, lão hổ khương, kê đầu sâm, lãn khương

II. NGUỒN GỐC

Thân rễ của hoàng tinh, chi hoàng tinh thuộc họ bách hợp. Gồm 3 loài chủ yếu sau đây.

  1. Hoàng tinh (Polygonatum sibiricum): Bút quản thái, kê đầu thất, ô nha thất,
  2. Đa hoa hoàng tinh (Polygonatum multiflorum): Nam hoàng tinh, hoàng tinh khương, trúc khương.
  3. Điền hoàng tinh (Polygonatum kingianum Coll): tiết tiết cao, tiên nhân phạn
Hoàng tinh
Polygonatum sibiricum

hoàng tinh

Hoàng tinh
Polygonatum kingianum Coll

III. TÁC DỤNG DƯỢC LÝ

1. Tác dụng kháng khuẩn

Hoàng tinh được cô đặc đến nồng độ 1g (thuốc thô)/kg dưới dạng dung dịch. Thử nghiệm trên invitro có tác dụng ức chế Salmonella typhi ở nồng độ dưới 1/160, Staphylococcus aureus, trực khuẩn kháng acid 607, Trichophyton sphaeroides và Epidermophyton koreana ở nồng độ dưới 1/80; chiết xuất ether của chiết xuất cồn Polygonatum sibiricum có thể ức chế Salmonella typhi ở nồng độ dưới 1/2500 và Staphylococcus aureus ở nồng độ dưới 1/640.

Sử dụng dạng bột khô hòa nước sau đó lọc, có tác dụng ức chế đối với Trichophyton rubrum, Sporothrix schenckii, Cryptococcus neoformans, Candida albicans, Staphylococcus aureus và Pseudomonas aeruginosa.

2. Tác dụng lên tim mạch

Tiêm chiết xuất dung dịch hoàng tinh vào tim thỏ cô lập có thể làm tăng đáng kể lưu lượng động mạch vành, trong khi không ảnh hưởng đến nhịp tim và khả năng co bóp cơ tim.

Tiêm tĩnh mạch 1,5 g (thuốc thô)/kg vào thỏ có thể ức chế sự gia tăng sóng T do hormone tuyến yên sau gây ra và thúc đẩy phục hồi sớm sóng T bất thường.

Chiết xuất chloroform của hoàng tinh có tác dụng ức chế hoạt động của men chuyển angiotensin (ACE) ở phổi thỏ.

3. Tác dụng hạ lipid máu

Polysaccharide hoàng tinh có thể làm giảm đáng kể nồng độ TC, LDL-C và Lp trong huyết thanh của động vật thí nghiệm bị tăng lipid máu và làm giảm sự hình thành các tế bào bọt nội mạc động mạch chủ.

4. Tác dụng chống lão hóa

Thử nghiệm cho ruồi giấm ăn chiết xuất nước hoàng tinh, nhận thấy thời gian sống sót trung bình của ruồi giấm kéo dài thêm 8%~9%, thời gian sống sót tối đa tương ứng cũng được cải thiện đáng kể. Tương tự thử nghiệm trên chuột cho thấy tăng đáng kể hoạt động SOD trong gan chuột sau một thời gian; Giảm sản xuất lipid peroxide trong toàn bộ máu của chuột, tăng cường hoạt động của glutathione peroxidase trong toàn bộ máu của chuột và giảm mức creatine kinase huyết thanh ở chuột. Về tác dụng dọn gốc tự do, hoàng tinh có tác dụng chống oxy hóa nhất định chế biến thành rượu có tác dụng lớn hơn chích mật.

5. Tăng cường công năng miễn dịch hàm lượng nucleotide vòng

Nước sắc dùng đường uống 12,5g/kg thúc đẩy tỷ lệ tế bào lympho ở chuột 3 tháng tuổi, 18 tháng tuổi và 24 tháng tuổi,  thúc đẩy đáng kể các tế bào hình thành kháng thể trong ống nghiệm (PFC) ở chuột 3 tháng tuổi, nhưng không có tác dụng đáng kể đối với chuột 18 tháng tuổi và 24 tháng tuổi.

Thuốc sắc nước hoàng tinh được cho chuột ăn với liều lượng hàng ngày là 0,5g mỗi ngày trong 10 ngày liên tiếp, có thể làm giảm đáng kể nồng độ CAMP và cGMP trong huyết tương của chuột bình thường, đặc biệt là cGMP, và làm tăng nhẹ tỷ lệ cAMP/cGMP, nhưng không có sự khác biệt đáng kể; nó làm tăng đáng kể hàm lượng CGMP trong mô lách của chuột bình thường và không có tác dụng đáng kể đối với CAMP và CAMP/cGMP

6. Ảnh hưởng đến đường huyết

Khi tiêm chiết xuất methanol hoàng tinh vào phúc mạc chuột bình thường và tiểu đường do streptomycine trong 4 giờ làm giảm lượng đường trong máu. Nó cũng có thể ức chế mạnh lượng đường trong máu của chuột do adrenaline và tăng đường huyết gây ra. Người ta tin rằng chiết xuất methanol có chức năng ức chế quá trình đường phân ở gan.

Nghiên cứu phát hiện ra rằng glycoside của nó là một trong những thành phần hoạt tính

7. Tăng cường khả năng học tập và khả năng ghi nhớ

Sử dụng kéo dài polysarcharid hoàng tinh có tác dụng cải thiện đáng kể khả năng học tập, trí nhớ và khả năng nhớ lại của chuột già, giảm số lượng lỗi và rút ngắn đáng kể thời gian tiềm ẩn của chuột trong bài kiểm tra mê cung.

8. Tác dụng khác

Nghiên cứu trên chuột cho thấy chiết xuất hoàng tinh còn có tác dụng kéo dài khả năng chịu đựng của chuột trong điều kiện thiếu oxy, kéo dài thời gian bơi lội của chuột.

IV. BÀO CHẾ

  1. Hoàng tinh: Lấy dược liệu gốc, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, làm ẩm nhẹ, thái lát dày, phơi khô
  2. Hoàng tinh chưng: Lấy hoàng tinh, rửa sạch, cho vào nồi hấp, hấp đến khi chuyển sang màu nâu và ẩm, vớt ra, thái lát dày. Sau khi hấp có thể tăng cường tác dụng bổ tỳ, ích thận, nhuận phế, loại bỏ cảm giác tê và ngăn ngừa kích ứng – châm chích cổ họng.
  3. Hoàng tinh chích: Lấy hoàng tinh được thái lát, dùng nước ngâm 1 đêm, rửa sạch bằng nước, luộc chín và phơi khô dưới nắng cho đến khi khô 50%, trộn với mật ong và để ẩm qua đêm, sau đó hấp trong nồi cho đến khi chín kỹ.
  4. Hoàng tinh chế rượu: Lấy những lát Hoàng tinh sạch và trộn với rượu gạo.Cho vào nồi hầm, đậy kín, đun nóng trong nước hoặc hấp, hầm cho đến khi rượu gạo ngấm hết; Hoặc cho vào hộp đựng thích hợp, hấp cho đến khi bên trong và bên ngoài ẩm và chuyển sang màu đen, lấy ra, phơi khô khi vỏ hơi khô dưới ánh nắng mặt trời, thái thành lát dày, phơi khô. Rượu có thể giúp ích cho thuốc, làm thuốc bổ nhưng không nhờn.

Cảm giác dược

  • Đặc tính của lát thuốc sắc Hoàng tinh là lát dày không đều, bề mặt màu vàng nhạt hoặc vàng nâu, trong mờ, xung quanh màu vàng nâu, tương đối nhăn nheo, thỉnh thoảng có vết thân và rễ hình đĩa (bắp ngô), hơi cứng và dai, dính. Mùi nhẹ, vị ngọt.
  • Hoàng tinh chưng có hình dạng giống Hoàng tinh, bề mặt màu nâu đen, kết cấu bóng và mềm.
  • Hoàng kinh chế rượu có hình dạng giống Hoàng tinh, bề mặt màu đen bóng, phần giữa màu nâu sẫm, vị ngọt và hơi có mùi rượu.
  • Chích hoàng tinh có hình dạng giống Hoàng tinh, bên trong và bên ngoài màu đen.
  • Bảo quản trong hộp khô, đóng chặt, để nơi khô ráo thoáng mát, chống ẩm và chống mối mọt

黄精中药材新鲜九华山生黄精茶黄精片男性正品非野生泡中药材制黄精16oz 补中益气、润肺养阴、强筋壮骨等– asianstore11

 

V. DƯỢC TÍNH – CÔNG DỤNG 

1. Dược tính: Cam bình, quy tỳ, phế, thận kinh

  • Biệt lục: cam bình, không độc
  • Tứ thanh bản thảo: hàn
  • Phẩm vị tinh yếu: cam, bình noãn
  • Bản thảo chính: cam, vi tân, tính ôn
  • Ngọc thu dược giải: Nhập túc thái âm tỳ, túc dương minh vị
  • Y lâm toản yếu: Thuần dương, kỳ tính đại nhiệt
  • Bản thảo tân biên: nhập tâm, tỳ, phế, thận tứ kinh
  • Thiên bảo bản kinh: vị khổ, cam, vi ôn.

2. Công dụng và chủ trị: Dưỡng âm nhuận phế, bổ phế ích khí, tư thận trấn tinh. Chủ trị âm hư lao lực, phế táo khái thấu, tỳ hư mệt mỏi, ăn ít miệng khô, tiêu khát. Thận hư lưng gối đau mỏi, dương nuy di tinh, ù tai mắt mờ, tóc bạc sớm, người yếu gầy gộc, phong ngứa.

  • Biệt lục: Chủ bổ trung ích khí, trừ phong thấp, an ngũ tạng. Uống lâu nhẹ người, trường thọ không đói.
  • Nhật hoa tử: Bổ ngũ lao thất thương, trợ cân cốt, chỉ đói, chịu lạnh. Ích tỳ vị nhuận tâm phế. Dùng đơn dược cửu chưng cửu sái giúp giữ gìn nhan sắc.
  • Đạo tàng thần tiên linh thảo kinh: Khoan trung ích khí, ngũ tạng điều lương, cơ nhục sung thịnh, cốt thân kiện cường, kỳ lực ngôn, đa niên bất lão, sắc tóc râu tươi sáng, “hạ tam thi trùng”
  • Bản thảo mông thuyên: Tráng nguyên dương, tiểu nhi gầy ốm ăn nhiều hơn để khỏe mạnh”
  • Cương mục: Bổ người hư, chỉ hàn nhiệt, trấn tinh tủy.
  • Bản thảo tòng tân: Bình bổ khí huyết mà nhuận
  • Dược vật đồ khảo: Chủ lý huyết khí, kiện cân cốt, nhuận bì phu, đuổi sắc đen, đau mắt, chảy mũ mắt.
  • Hiện đại thực dụng trung dược: Tư dưỡng, cường tráng. Đối với hư chứng sau mắc bệnh tương đối hiệu quả. Còn là loại thuốc thuốc giải nhiệt, dùng trong người nóng sốt từng cơn, thống phong, viêm khớp, dây chằng. Đây cũng là thuốc chống giun đũa và có hiệu quả trong điều trị huyết áp cao.
  • Hạnh lâm trung thảo dược: Trị nấm chân, giun kim
  • Hồ Bắc trung thảo dược chí: Trị âm huyết bất túc, đại tiện bí kết, viêm da thần kinh

3. Liều dùng: Thuốc sắc 10-15g, dùng sống 30 -60g, hoặc nhập hoàn, tán, cao. Ngoại dụng: nước sắc hoặc chiết rượu.

4. Kiên kỵ: Trúng hàn, tiết tả, đàm thấp bĩ mãn.

  • Cương mục: Kỵ quả mai
  • Ngọc thu dược giải: Hoàng tinh trợ thấp, thấp vượng cấm dùng
  • Đắc phối bản thảo: Khí trệ kỵ dụng
  • Bản thảo chính nghĩa: Vị nạp bất vượng tuyệt đối không dùng

VI. PHƯƠNG TIÊU BIỂU

  1. Người mệt mỏi, tỳ vị hư nhược: Hoàng tinh, đảng sâm, hoài sơn mỗi vị 50g hầm với gà. (Đông bắc dược dụng thực vật chí).
  2. Trị viêm gan mãn tính, mệt mỏi, bụng trướng, khẩu vị không tốt, tiểu ít, vã mồ hôi nhiều miệng khô: Đan sâm 30, hoàng tinh 25, nhu đạo căn tu (rễ cây lúa) 25 sắc uống (bản thảo biển bì)
  3. Trợ khí cố tinh, bảo trấn đan điền: Hoàng tinh (Bỏ vỏ), câu kỷ tử mỗi vị 2 cân. Rửa sạch để ráo, thái nhỏ xay nhuyễn, trộn với kỷ tử, giã thành bột, trộn đều, phơi khô => tán bột và rây, luyện mật, làm hoàn bằng hạt ngô đồng.
  4. Trị thận hư đau lưng: Hoàng tinh 250, đậu đen 60 – nấu ăn (Hồ bắc dược vật chí)
  5. Tiểu nhi ngũ trì ngũ nhuyễn: Hoàng tinh 1000g, hồng táo 120-180g sấy khô, nghiền bột, luyện mật làm hoàn (thảo dược thủ bản)
  6. Trị bệnh về mắt, bổ can khí, minh mục: mạn kinh tử 1 cân, hoàng tinh 2 cân.
  7. Trị phong hủi nặng phát ban trên mặt, loét ở tay chân. Hoàng tinh, bạch mật, sinh địa
  8. Trị ghẻ lỡ: Hoàng tinh 30, đinh hương 10, bách bộ 10, nấu nước rửa
  9. Trị viêm da thần kinh: Hoàng tinh cửu chưng cửu sái 15 – 30g

VII. BÁO CÁO NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG

  1. Điều trị giảm bạch cầu: Siro hoàng tinh dùng cho 40 trường hợp giảm bạch cầu, người lớn dùng 10ml, ngày 3 lần, 4 tuần là 1 liệu trình. Kết quả: 11 trường hợp có hiệu quả rõ, 18 trường hợp có hiệu quả, 11 trường hợp vô hiệu. Hầu hết sau 2 tuần bệnh nhân bắt đầu tăng bạch cầu. Một số trường hợp chướng bụng khi dùng thuốc.
  2. Điều trị nhiễm nấm thứ phát ở đường hô hấp: Nhóm điều trị dùng nước sắc hoàng tinh ngậm nuốt, nhóm chứng dùng albumin truyền, dinh dưỡng và nhóm kháng sinh(40;20;19), 3 và 4 trường hợp tử vong ở 2 nhóm còn lại, tỷ lệ kiểm soát nhanh rất thấp. Kết quả 32 trường hợp 80% kiểm soát nhanh, 5 trường hợp 12.5% kiểm soát chậm, 3 trường hợp tử vong.
  3. Điều trị điếc do thuốc: dùng dịch tiêm kết hợp với vitA và VitB, nhóm điều trị 2 tháng. Nhóm chứng chỉ dùng vitamin trong 2 tháng – 5 năm. Tỷ lệ hiệu quả là 34% và 2%.
  4. Điều trị cận thị: dùng siro chế đậu của hoàng tinh cho học sinh 12-25 ngày, quan sát 2 nhóm. 82 case ở nhóm điều trị 26 trường hợp có hiệu quả, 22 trường hợp có cải thiện, tổng tỷ lệ 58.5 so với nhóm đối chứng giả dược là 12.16%.
  5. Điều trị hắc lào ở tay chân: Ngâm rượu nửa tháng trong bình kín, lấy nước rửa, bôi ngày 3 lần. Quan sát 67 trường hợp, 55 case khỏi bệnh, 12 trường hợp tiến triển.
  6. Điều trị giun kim: Uống ngày 3 lần, uống liên tiếp 3 ngày. Tỷ lệ hiệu quả 52/54 ở trẻ em

PHỤ:

LÔI CÔNG BÀO CHÍCH LUẬN

1. Bào chế:

– Theo Trung y: Mới đào lên rửa sạch, đồ kỹ một đêm, thái mỏng phơi khô dùng. Có thuyết nói phải cửu chưng cửu sái; nếu chưa chế thì gây ngứa cổ họng.

– Theo Việt y: Có 5 cách bào chế: a. Cách thứ nhất: Nếu mới thu hái thì rửa sạch, cho vào nồi đổ ngập nước, đun sôi độ 1/2 giờ, đổ bỏ nước này đi để tránh gây ngứa. Thường khi thu mua đã làm qua cách chế biến này để dễ bảo quản. Đồ nước sôi khác vào cho ngập quá 5 – 6 cm, đun cho đến khi gần cạn (dưới đặt một cái vỉ để tránh củ bị cháy khét); phơi ráo (tránh ruồi lằng) lấy nước còn lại tẩm rồi phơi nhiều lần cho đến khi hết nước và củ không dính tay. Sau đó, cho củ Hoàng tinh nói trên vào một cái cóng bằng đồng hay bằng nhôm không đậy nắp; đặt cái cóng này vào nồi nước đầy 2/3, đậy vun lại, đun cách thủy. Hơi nước trong nồi đọng lại và rơi vào cóng. Đun như vậy trong 6 – 8 giờ.

Thỉnh thoảng tiếp nước sôi. Lấy củ Hoàng tinh ra phơi khô. Lấy nước trong cóng tẩm phơi cho đến hết. Cuối cùng phơi đến không dính tay là được. b. Cách thứ hai: Đem củ Hoàng tinh rửa sạch, ngâm nước một đêm, bỏ nước này đi (nếu là thứ chưa luộc qua). Cho vào một cái nồi trong đó có mật mía pha loãng và ít gừng. (Cứ 1 kg Hoàng tinh dùng 250 ml mật, 250 ml nước và 25g gừng giã dập). Đun cho đến khi gần cạn hết nước mật, thỉnh thoảng đảo đều, lấy ra phơi gần khô, lấy nước mật còn lại tẩm phơi cho đến hết. Sau đó, đem đồ rồi phơi, làm như vậy 9 lần. c. Cách chế thứ ba: Làm như cách thứ 2 nhưng thay mật bằng đỗ đen, đổ cho ngập nước. Đun kỹ cho gần cạn rồi làm như trên.

d. Cách thứ tư: Lấy củ Hoàng tinh tươi, rửa kỹ cho thật sạch, thái nhỏ rồi giã nát, ngâm với nước một ngày, thỉnh thoảng lại nhào, hôm sau quấy nhẹ lên, gạn lấy nước, để lắng, thay vào đó nước khác rồi lại làm như hôm trước, như vậy đủ 9 lần. Nước để lắng được thì gạn lấy bột, phơi khô. đ. Cách thứ năm: Chế rượu (tửu Hoàng tinh) Hoàng tinh 10 kg rượu trắng 2 lít Rửa sạch củ Hoàng tinh, gọt bỏ vỏ ngoài và rễ con trộn với rượu, cho vào thùng đậy nắp, đun cách thuỷ để dược liệu hút hết rượu trong khoảng 24 giờ đến khi có màu đen bóng, lấy ra phơi âm can hoặc sấy cho se, thái phiến dày 2 – 3 mm, phơi hoặc sấy khô. Các yếu tố bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng: Mặt ngoài màu nâu đến nâu đen; chất dẻo, dai dính, khó bẻ, mặt bẻ trông như sừng, bên trong màu đen; mùi thơm nhẹ, vị ngọt.

Dr.Hang – ANYQ biên dịch và tổng hợp

Tài liệu tham khảo

  1. Trung hoa bản thảo
  2. Lôi công bào chích luận
  3. Bài viết có sử dụng hình ảnh của các trang web như: wikipedia, zhiwutong, taobao.

 

 

 

 

 

Tin mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.
.
.