Thiên quan năng trong Hoàng đế Nội Kinh Linh Khu, thảo luận về nguyên tắc châm cứu và phương pháp tuyển chọn, đào tạo người học y thuật. Khả năng chữ “Quan năng” ở đây dường như có hàm ý là “tùy năng chi nhậm quan” tức là phân công khoa y tùy theo năng lực của người hành nghề. Đồng thời còn mang nghĩa phân khoa cho cách vận hành của sinh lý bệnh với từng bộ vị trong cơ thể
Đó là lý do mà chúng mình đưa thiên này lên đầu. Để nếu bạn có đang tìm hiểu về Linh Khu hay học về châm cứu sẽ có căn cứ, có cái giềng mối, cái cột mốc quán chiếu mà tránh lan man giữa biển kiến thức. Và có một điều cần lưu ý, là việc sắp xếp thành từng thiên này không phải do nguyên bản có sẵn từ ban đầu, mà là kết quả của quá trình biên soạn, chỉnh lý và bổ sung qua nhiều thế kỷ của nhiều thế hệ y gia.
Nội dung cơ bản của thiên này chủ yếu xoay quanh 3 phần gồm:
- Nguyên tắc và kỹ thuật cốt lõi của phép châm cứu
- Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và bệnh lý mới phát
- Phân công khoa phòng theo nhiệm vụ của người hành nghề.
NỘI DUNG KINH VĂN
- Lưu ý: Nội dung của những bản dịch trong nội kinh linh khu đều được mình dẫn từ sách của Học viện Y dược cổ truyền Việt Nam.
- Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá: “Ta đã nghe Thầy nói về vai trò của cửu châm, nghe đã nhiều rồi, sự phong phú của nó thật là không biết bao nhiêu mà kể. Ta đã suy rộng ra để thảo luận nhiều lần và đã quy nạp được về 1 mối, nay ta xin đọc lại cho thầy nghe, thầy nghe cho rõ về cái lý của nó, nếu có điều gì sai, xin thầy bảo cho ta biết, ta cũng xin được thầy tu chính cho đúng với cái đạo của nó, làm thế nào để truyền lại cho đời sau mà không có điều gì hại. Khi nào ta tìm được những người có cái chí thông hiểu như chúng ta thì ta mới truyền dạy cho, còn nếu như không có được những người như vậy thì thôi, không dạy”.
- Ký Bá rập đầu 2 lạy, tâu:”Thần xin kính nghe về cái đạo của bậc thánh nhân”
- Hoàng Đế nói: Cái lý của sự dụng châm là phải nắm cho được
- Bộ vị biểu hiện của hình và khí, phân biệt rõ bộ vị trên dưới, phải trái
- Xét cho được Âm Dương biểu lý, huyết khí nhiều hay ít, sự vận hành thuận hay nghịch, những nơi để cho khí xuất từ lý ra biểu, nhập từ biểu vào lý, phải biết cách chống đỡ, đuổi tà khí, và đừng sai sót trong việc dưỡng sinh.
- Ngoài ra, phải biết phép giải cho được những kết tụ, phải biết phép bổ hư tả thực, nắm cho được sự phân bố khí ở các huyệt trên và dưới, phải sáng tỏ vai trò của khí tứ hải (khí hải, huyết hải, tủy hải, và thủy cốc chi hải).
- Phải nắm cho được bộ vị đau nhức ở chỗ nào, nếu có những chứng trạng hàn nhiệt vãng lai hoặc mệt mỏi yếu sức.
- Tà khí xâm nhập vào cơ thể sẽ chạy đi ở những nơi khác nhau, nên thẩm định hư thực của bệnh, sự vãng lai của khí để điều hòa nó.
- Phải nắm cho được các đường kinh toại, với những đường chi lạc 2 bên tả hữu, nắm cho vững nơi hội họp của nó.
- Nếu có tình trạng hàn và nhiệt tranh nhau làm cho Âm Dương bất hòa, ta nên tham hợp các nguyên lý ,dựa vào bệnh trạng để tiến hành điều trị.
- Nếu có tình trạng chứng hư và chứng thực gần giống nhau, ta phải biết dựa vào sự thịnh suy của kinh mạch để sơ thông kinh khí.
- Nếu tà khí xâm nhập vào đại lạc bên trái, gây bệnh bên phải, nhập bên phải gây bệnh bên trái, phải biết tà khí ở bộ vị nào để áp dụng phép châm mậu thích: bệnh bên trái châm bên phải, bệnh bên phải châm bên trái. Phải nắm rõ lẽ nghịch thuận để biết rằng thuận thì trị được, nghịch thì không trị được.
- Nếu tình huống của tạng phủ Âm Dương không bị lệch mà chỉ do thời lệnh làm hại đến, do đó ta biết được nguyên nhân gây bệnh là do thời lệnh. Thẩm định tiêu bản của bệnh, xét đoán lẽ hàn nhiệt để biết được tà khí đang ở tại đâu, như vậy vạn lần châm không còn lo ngại nữa.
- Nếu ta nắm được tác dụng của cửu châm, đó là đạo của châm đã tròn vẹn rồi vậy”. Rõ được vai trò của ngũ du huyệt (Tỉnh, Huỳnh, Du ,Kinh và Hợp), xét được lẽ hư thực để mà áp dụng phép bổ tả nhanh hay chậm, mạch khí vận hành co duỗi, xuất nhập, tất cả đều có những điều lý (trật tự) của nó.
- Âm Dương trong con người cũng phối hợp với ngũ hành, ngũ tạng lục phủ đều ẩn tàng những quan năng của nó với Âm Dương và ngũ hành, thời lệnh của bốn mùa và tám hướng đều thuộc Âm Dương, ảnh hưởng đến con người
- Mỗi bộ vị đều biểu hiện Âm Dương và ngũ hành, và ứng lên ở vùng Minh đường. Các bộ vị này đều biểu hiện bởi những màu sắc tương ứng với tình huống của ngũ tạng lục phủ.
- Thẩm sát được những bộ vị đau trên thân thể rồi kết hợp với những biểu hiện về màu sắc từ trên ,dưới, trái, phải ở trên mặt để biết được bệnh đang thuộc hàn hay ôn, đang xảy ra tại kinh nào. Thẩm sát được những đặc điểm hàn ôn, hoạt sắc trên bì phu, ta biết được những bệnh khổ thế nào.
- Nhân vì màn cách mạc ngăn làm 2 ngăn thượng và hạ, nhờ đó ta nên biết cho rõ bệnh khí đang ở nơi nào.
- Trước hết ta phải nắm cho được con đường thông lộ của kinh mạch, chọn huyệt nên ít mà tinh,có khi phải châm sâu và lưu kim lâu, nhờ vậy ta làm cho chính khí phục hồi, quay về đúng đường đi của nó, chống được tà khí.
- Nếu như ở thượng bộ phát nhiệt , ta dùng phép châm đẩy hỏa nhiệt giáng xuống.
- Nếu như bệnh tà đi từ dưới dần lên trên, ta dùng phép châm giáng xuống và đẩy lui để trừ nó. Đồng thời ta quan sát đến bộ vị đau nhức trước đây: trước hết ta chọn huyệt nơi đó để tả nó.
- Có những bệnh không thích ứng với việc châm, ta nên dùng phép cứu. Khi nào khí ở trên bất túc, ta dùng phép châm ‘thôi nhi dương chi’.
- Khi nào khí ở dưới bất túc, ta dùng phép châm ‘tích nhi tùng chi’. Khi nào Âm Dương đều hư, cấm châm thích, ta dùng (ngải cứu) hỏa để để cứu là thích hợp nhất. Khi nào bệnh quyết nghịch mà bị hàn thậm, hoặc phần bắp thịt áp vào với cốt bị hãm xuống, hoặc hàn khí đã lên đến quá gối, ta cứu huyệt Hạ Lăng, Tam Lý.
- Những nơi mà Âm lạc đi qua, nếu có hàn tà đến và lưu lại nơi đó, hoặc hàn tà do lạc mạch đi sâu vào nội tạng, ta dùng phép châm ‘thôi nhi hành chi’ để đuổi hàn tà. Nếu có tình huống mà kinh mạch bị hãm lại, ta phải dùng ngải cứu để cứu (đốt nóng) là đúng nhất. Khi nào lạc mạch kết lại thành những đường cứng, ta cũng dùng ngải cứu để trị.
- Nếu có chứng đau nhức mà không có bộ vị nhất định, ta chọn huyệt Thân Mạch là nơi mà mạch Dương kiểu đi qua, hoặc huyệt Chiếu Hải là nơi mà mạch Âm kiểu đi qua; ở người đàn ông thì ta chọn mạch Dương kiểu, ở người đàn bà thì ta chọn mạch Âm kiểu. Nếu ta chọn Âm cho đàn ông, chọn Dương cho đàn bà, kết quả sẽ ngược lại, đó là điều mà người thầy thuốc giỏi không làm.
- Tóm lại, trên đây ta đã đề cập đến những nguyên tắc trị liệu liên quan đến tạng phủ, Âm Dương, hàn nhiệt, hư thực, biểu lý, thượng hạ, bổ tả, nhanh chậm… như thế là những lập luận chủ yếu của việc châm thích đã đầy đủ rồi vậy”.
- Trong quá trình học tập phép dụng châm, ắt phải theo đúng phương pháp và chuẩn tắc.
- Bên trên phải biết xem những ánh sáng (nhật nguyệt, các vì sao…). Bên dưới phải nắm cho được luật vận hành của bát chính (tám tiết chính), nhằm tránh được những tà khí bất chính của tứ thời, phải biết sống cho đúng với nền ngũ luân của trăm họ (những người chung quanh ta).
- Phải thẩm định cho được những chính phong (thực), những tà phong (hư) đừng để chạm phải những tà khí quái lạ.
- Nếu có những bệnh do mưa gió của Trời, hoặc gặp phải những thời lệnh bất chính thường của tuế khí, người thầy thuốc lại không thông hiểu những điều kể trên, họ sẽ làm cho bệnh nhân bị nặng thêm. Vì thế, người thầy trị bệnh phải biết rõ những thời lệnh thuận hay kỵ của Trời, mới có thể nói đến vấn đề châm ý.
- Phải bắt chước và vận dụng cho được học thuật của cổ nhân, nghiệm cho được vào hoàn cảnh hiện tại. Ví dụ: Phải nhìn nắm cho được những gì xảy ra nơi sâu thẳm nhất, vận hành, biến hóa bên trong của doanh vệ, huyết khí, phải truyền thông, phải đạt được cho đến muôn đời sau
- Những biến hóa của doanh vệ, huyết khí bên trong rất sâu xa là những điều mà người thầy thuốc vụng về không thể biết và thấy được, nhưng ngược lại, nó là những dữ kiện qúy báu của những người thầy giỏi. Những biến hóa của doanh vệ, huyết khí, không thể biết nó nhưng biết những hình tích cụ thể, mà nó chỉ bộc lộ ra như thần khí như có như không”.
- Tà khí trúng vào người làm cho người ta bị sợ lạnh run rẩy, chính là trúng vào người, bệnh nhẹ, trước hết nó chỉ biểu hiện lên ở sắc diện, nhưng ở thân mình thì chưa thấy có gì, dường như đang có bệnh, nhưng không có vẻ gì là bệnh, dường như khỏi đi, dường như đang còn bệnh, bên ngoài dường như có dạng hình người bị bệnh, nhưng cũng có khi chẳng có dáng gì là bệnh cả, khó mà nắm được bệnh tình. Vì thế, người thầy thuốc giỏi trong lúc thủ khí để chữa bệnh, họ cứu được bệnh trong lúc còn manh nha sơ khởi, những người thầy thuốc vụng về, họ chỉ lo lắng, theo dõi trong lúc bệnh đã thành, họ chỉ nương theo đó để làm bại hoại không bệnh hình mà thôi.
- Vì thế, người thầy khéo dụng châm, họ phải biết mạch khí đang ở chỗ nào để mà gìn giữ cánh cửa xuất nhập của nó. Họ cũng phải biết phương pháp điều hòa khí huyết, phải biết lúc nào nên bổ, lúc nào nên tả, phải biết ý nghĩa của việc châm nhanh hay chậm, phải biết huyệt nào nên chọn.
- Nếu châm tả, nên dùng thủ thuật nhuần nhuyễn, theo sát với bệnh để mà xoay kim, như vậy tà khí mới lui và khôi phục lại chính khí. Khi châm thì châm vào nhanh nhưng rút kim ra chậm hơn, được vậy tà khí mới theo kim mà xuất ra. Nếu châm bằng phép nghênh đón để tả, ta phải lắc kim làm cho miệng của vết kim to ra, được vậy khí xuất ra mới nhanh.
- Nếu châm bổ, ta phải có thái độ đoan chính, thung dung, trước hết phải xoa nắn bên ngoài da, làm thế nào để tà khí ở nơi nào đó trên kinh mạch sẵn sàng ở vùng của huyệt đã chọn, tay trái ta xoa trên huyệt vị, tay phải ta ấn lên da, ta xoay nhẹ mũi kim rồi châm kim vào 1 cách chậm chậm, thủ thuật và dáng điệu phải đoan chính, phải an tĩnh, phải kiên tâm không nóng nảy, lưu kim 1 cách nhẹ nhàng, đợi khi nào mạch khí điều hòa, ta mới rút kim thật nhanh, sau khi rút kim xong, ta dùng tay xoa nhẹ trên da và đồng thời bịt kín vết kim lại, nhờ vậy mà chân khí mới giữ lại được.
- Cái quan yếu của việc dụng châm là không nên quên, không nên lơ là đến vấn đề thần khí”
Lôi Công hỏi Hoàng Đế “Trong điều gọi là châm luận mà bệ hạ đã nói, khi nào có được người thích ứng với công tác châm trị, ta sẽ nhận và dạy cho họ, nếu không phải là những người ấy thì không nói đến họ; Làm thế nào để biết được người nào là người thích ứng cho việc truyền thụ (việc châm trị)”.
- Hoàng Đế đáp: “Nên chọn đúng cho mỗi người 1 khoa thích hợp, tùy theo năng lực của họ mà dạy cho họ, nhờ vậy mà làm cho công việc thành công rực rỡ hơn”.
- Lôi Công hỏi: “Thần mong được nghe về quan năng như thế nào ?”
- Hoàng đế đáp:
- Người nào đôi mắt sáng, ta dạy cho họ cách nhìn về sắc diện.
- Người nào có đôi tai thính, ta dạy cho họ cách nghe tiếng nói.
- Người nào có ngôn ngữ lưu loát, phát âm rõ ràng, ta dạy cho họ các) ăn nói để truyền đạt ý tưởng.
- Người nào ăn nói hòa hoãn, dáng điệu an tĩnh, thủ pháp khéo léo, nội tâm khéo xét đoán, ta dạy cho họ thao tác châm và cứu (bằng ngải) nhằm làm sơ thông khí huyết, điều hòa các tình huống nghịch và thuận, xét được sự biến hóa của Âm Dương kiêm nắm vững các phương pháp điều trị.
- Người nào có đôi tay hòa hoãn, gân cốt dịu dàng, nội tâm điều hòa, ta dạy cho họ phép án ma để hướng dẫn hành khí.
- Người nào tính hay ghen ghét, lời lẽ khe khắt, độc ác, thái độ khinh người, ta để cho họ làm khoa thóa ung chủ bệnh.
- Người nào có móng tay thô kệch, thủ pháp ác độc, mỗi khi làm việc thường di hại đến kẻ khác, ta dạy cho họ làm công việc xoa nắn những khối tích tụ, và những chứng tý (tê) lâu năm.
- Như vậy, mỗi loại người có 1 việc thích hợp với khả năng của họ, nhờ vậy mà các phương pháp điều trị mới vận hành thuận lợi, tên tuổi của họ mới nổi lên khắp nơi. Nếu không gặp được người thích hợp với mỗi công tác điều trị như đã nói trên, chẳng những công phu của họ không thành mà ông thầy của họ cũng mất đi cái danh dự ấy.
- Cho nên mới nói rằng: Đó là ý nghĩa của câu: Khi nào có được người thích ứng với công tác châm trị ta sẽ nhận và dạy cho họ, nếu không phải là người ấy thì không truyền cho.
- Muốn thử bàn tay độc hiểm, ta sẽ thử cho họ đè lên con rùa, ta để con rùa bên dưới 1 đồ dùng (cái chậu chẳng hạn), bên trên người đó dùng tay đè lên, sau 50 ngày con rùa sẽ chết. Nếu người nào mà bàn tay hòa hoãn (dịu dàng) thì con rùa sẽ sống lại như cũ”.
LỜI BÌNH
Sau khi xem xong nguyên văn bản dịch, trên tinh thần cầu thị, chúng mình sẽ làm rõ để hiểu hơn về nội dung của đoạn văn, đồng thời phát hiện những điểm còn mơ hồ, mâu thuẫn theo cách của An Nam Y Quán đã có trình bày trong bài giới thiệu về Hoàng đế Nội Kinh Linh Khu
Giả thuyết những nội dung trong bản dịch là chính xác sự và truyền tải của dịch giả là mang đủ ý của tác giả. Thì có một số điểm mà chúng mình thấy cần lưu ý là
1. Cần đặc biệt lưu ý những thông tin trong thiên này, cái có thể kiểm chứng được như:
- Các hiện tượng lâm sàng mà thiên mô tả (đau, sốt, rét run, đau lan, sắc mặt, diễn biến…).
- Các thao tác điều trị (châm, cứu, lưu kim, bổ, tả, nghênh, xoay kim, rút kim…).
- Các quy tắc quyết định lâm sàng (chọn châm hay cứu, chọn huyệt, chọn bên châm, chọn thời điểm…).
- Các dự đoán về kết quả nếu áp dụng những quy tắc đó
những cái có tính khách quan (phải khám toàn thân, xác định vị trí bệnh, biết bệnh mới phát hay lâu, phân biệt hư thực, xem diễn biến, biết bệnh nhân nào không nên châm, biết khi nào dùng cứu đó đều là tư duy lâm sàng mà tác giả đã nhận thức được từ rất sớm).
2. Có thể nhìn thấy được gì trong nhận thức luận của tác giả: Đây là kiểu nhận thức mang tính toàn diện “Thấy bản chất qua hình tượng”: Tác giả coi con người là một hệ thống nhất thể kết nối với vũ trụ. Nhận thức không chỉ dừng lại ở các triệu chứng bề ngoài mà phải thấu suốt từ hiện tượng hữu hình để suy ra bản chất vô hình. Là sự kết hợp nhận thức lý tính và cảm tính. Là sự kết hợp giữa kế thừa và thực nghiệm, gắn đạo đức với mục đích thực tiễn.
3. Có sự mâu thuẫn gì trong nội tại của nó không?
- Ngày xưa quan niệm về thầy thuốc như nào mà chọn người có tâm địa độc ác, lời lẽ cay nghiệt? trong khi phía trước đó Hoàng đế đã nói chỉ truyền cho người có thái độ đoan chính
- Trích đoạn nhấn mạnh cái quan trọng nhất của dụng châm là Thần khí – thứ “như có như không”, sâu xa, người thầy thuốc vụng về chỉ lo giữ “bệnh hình” (cơ thể hữu hình) còn người giỏi phải nắm cái “vô hình”, nhưng khi thực hành lại chia nhỏ từng giác quan riêng lẻ (người chỉ nhìn mặt, người chỉ nghe tiếng) vô tình làm mất đi tính toàn diện và sự cảm nhận “Thần khí” tổng thể mà phần y lý bên trên vừa đòi hỏi ở một người thầy thuốc giỏi. Tác giả khẳng định “Kinh mạch thì thường không thể thấy được” đồng thời ở đoạn khác tác giả lại cho rằng “Nhờ đó, ta có thể nhìn kinh mạch được ở thân thể, khi nó hiện ra phù mà kiên, hiện ra rõ ràng mà lớn, đó là huyết nhiều; nhỏ mà trầm, đó là khí nhiều”
- Y thuật được xây dựng trên hệ thống lý luận tự nhiên – sinh học rất chặt chẽ: Âm Dương, Ngũ Hành, Bát chính, Kinh lạc, Khí huyết, Ngũ du huyệt, Bổ tả… Để thử xem bàn tay người thầy thuốc là “độc hiểm” hay “hòa hoãn”, văn bản đưa ra phép thử: Cho người đó dùng tay đè lên chậu úp con rùa… , đó là sự vô lý về mặt hệ quả vì Con rùa bị úp dưới chậu 50 ngày không ăn, uống, ánh sáng thì việc nó sống hay chết phụ thuộc vào sức bền sinh học của bản thân con rùa, hoàn toàn không có mối liên hệ logic hay cơ sở y lý nào với “bàn tay độc hiểm” hay “dịu dàng” của con người. Và việc dùng một phép thử mang tính cảm tính dân gian đã làm giảm đi tính chặt chẽ, khách quan của toàn bộ hệ thống y lý biện chứng đã trình bày trước đó.
- Việc này khiến ta không thể không hoài nghi về nội dung của kinh văn, và sự chính sách trong quá trình biên tập và cả quá trình truyền thừa.
4. Về nội dung có những điểm gì đáng chú ý? Những định nghĩa về âm dương, khí huyết, tạng phủ, hàn nhiệt, hư thực… có gì khác với hiểu biết ngày nay không? nếu có thì hệ quả kéo theo là gì trong việc nhận thức và học tập tư duy từ tác giả?
5. Thế hệ Y gia hậu Linh Khu đã ứng dụng nội dung này như nào?
6. Vậy thì câu hỏi đặt ra là ta học được gì từ thiên này?
3 câu còn lại là phần thưởng cho những ai đã dành thời gian để đọc hết nội dung. Chúc các đồng đạo tinh tấn. Nếu có góp ý, hoặc câu trả lời cho 3 câu còn lại, hoặc phản hồi về nội dung bài viết vui lòng liên hệ An Nam Y Quán qua fanpage An Nam Y Quán
hoặc An Nam Y Quán herbaltea&OM workshop
CÓ THỂ ĐI THEO CÁCH HỌC NÀY SẼ RẤT LÂU ĐỂ ỨNG DỤNG, NHƯNG NẾU TỰ MÌNH THẤU THỊ VỀ NHỮNG HIỂU BIẾT CỦA MÌNH MỘT CÁCH SÁNG SUỐT THÌ GIỐNG NHƯ MÀI GƯƠM 10 NĂM ĐỂ KHI CẦN CHÉM 1 PHÁT 1.

