Những ai sinh ra ở miền Trung, đặc biệt vùng ven sông Thu Bồn đất Quảng, hẳn đã từng quen với hình ảnh nương dâu bãi bồi. Từ bao đời nay, cây dâu tằm đã gắn với nghề tằm tang, một nghề lâu đời của người Việt, nơi mà từ những chiếc kén có thể kết thành sợi tơ, dệt nên áo quần và cả một nền văn hoá.
Lá dâu không chỉ là thức ăn của tằm, với người dân quê, lá dâu non còn là một món ăn và là vị thuốc dân gian. Ngày còn bé, mỗi khi bất chợt chảy máu cam, mẹ thường hái vài lá dâu non, thái nhỏ, đem chưng cùng óc heo hoặc cá trê. Món ăn mộc mạc, đơn giản ấy, lại hiệu quả và còn giúp ngủ ngon hơn, bớt rôm sảy. Lúc ấy, chẳng ai gọi đó là “dược liệu” hay “bài thuốc”. Nó đơn giản chỉ là kinh nghiệm sống, truyền lại từ bao đời – thứ tri thức dân gian không cần tung hô như thần dược, nhưng lại có hiệu quả không ngờ.
Những ngày còn chăn trâu ngoài đồng, lũ trẻ thường hay hái những quả dâu ven bờ rào. Lúc quả còn xanh vàng hay mới đỏ, ăn vội thì chua lè chua lét, cả bọn ăn nhăn tít cả mắt. Khi tìm được trái chín màu tím sẫm, cả bọn thích thú thưởng thức thứ chua chua ngọt ngọt, mùi thơm nhẹ ấy, ăn xong môi và lưỡi được nhuộm thành màu tím. Những thứ rất đỗi bình dị và quen thuộc ấy, giờ đây chỉ còn lại trong hoài niệm của một thế hệ.
Dâu tằm – từ đời thường đến Y thư
Loại quả gắn với ký ức thôn dã ấy là một dược liệu được ghi chép rất sớm trong y thư phương Đông. Theo Thần Nông Bản Thảo Kinh, dâu tằm đã được nhắc đến như một vị thuốc bổ dưỡng dùng để dưỡng sinh. Trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS. Đỗ Tất Lợi, quả dâu tằm có công dụng bổ thận, sáng mắt, bổ toàn thân, hỗ trợ tiêu hóa, chữa bệnh ngủ kém, râu tóc bạc sớm.
Trong nhiều đầu sách Đông Y và tài liệu kinh nghiệm của các thầy thuốc xưa còn có những mô tả khá phong phú về công dụng của dâu tằm, những ghi chép này mang tính kinh nghiệm lâm sàng truyền thống, chưa phải là bằng chứng khoa học theo tiêu chuẩn nghiên cứu hiện đại, nhưng phần nào phản ánh cách người xưa quan sát và sử dụng dược liệu.
Theo đó công dụng của dâu tằm được mô tả gồm: Bổ huyết dưỡng âm, sinh tân nhuận táo. Được dùng trong trường hợp tiêu khát, làm dịu tình trạng nhiệt táo, bứt rứt trong người do dùng nhiều khoáng dược, giúp mắt sáng hơn và cải thiện tình trạng suy nhược, hỗ trợ nhuận tràng. Đây còn là loại dược liệu giúp dưỡng sinh và cường tráng, có thể “ích khí huyết, an thần định phách”, giúp cơ thể khoan khoái, ngủ yên hơn, uống lâu khỏe người.
Ngoài ra, đối với Đông y, gần như toàn bộ cây dâu đều được dùng làm thuốc, và mỗi bộ phận lại có một công năng khác nhau:
- Lá dâu – Tang diệp (桑叶): thanh phế, tán phong nhiệt, thường dùng trong các chứng cảm phong nhiệt, ho, mắt đỏ.
- Cành dâu: Tang chi (桑枝): khu phong thấp, thông kinh lạc, dùng trong đau khớp.
- Vỏ rễ dâu – Tang bạch bì (桑白皮): tả phế, lợi thủy, dùng cho ho suyễn và phù thũng.
- Bạn có biết rằng thậm chí những thành phần ký sinh trên cây dâu cũng được dùng như một dược liệu quý chẳng hạn như tang phiêu tiêu hay tang ký sinh.
Từ cổ truyền đến hiện đại
Những kinh nghiệm cổ truyền về quả dâu, trong vài thập niên gần đây, cũng dần được sáng tỏ hơn bằng khoa học hiện đại. Quả của dâu – Morus alba chứa khá nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học: Anthocyanin (chất tạo màu tím đỏ), Resveratrol, Flavonoid và polyphenol, Vitamin C và các khoáng vi lượng.
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy nhiều tác dụng đáng chú ý bao gồm: khả năng chống oxy hóa mạnh. Hỗ trợ tim mạch trong việc giảm cholesterol LDL, cải thiện chức năng nội mạc mạch máu, giảm nguy cơ xơ vữa động mạch. Hỗ trợ kiểm soát đường huyết, bảo vệ thần kinh.
Tuy đa số các nghiên cứu mới dừng ở mức thử nghiệm hoặc quy mô nhỏ, và không thể xem quả dâu như một “thần dược”. Nhưng rõ ràng, những quan sát của đông y về tính dưỡng huyết và dưỡng sinh của quả dâu là phù hợp với bằng chứng khoa học.
Trong dân gian, quả dâu thường được dùng dưới dạng phơi khô, sau đó sắc chung với các vị thuốc khác trong thang thuốc, hoặc phơi khô, tán bột rồi luyện với mật ong làm hoàn để dùng dần, có khi lại dùng quả tươi, giã vắt lấy nước cốt để uống. Ngày nay còn có nhiều loại sản phẩm từ quả dâu như Siro dâu, dâu ngâm đường lên men, dâu ngâm rượu, cao dâu tằm… .
Ngày nay nhu cầu dùng quả dâu nhiều hơn, không chỉ là như một vị thuốc mà còn là một loại quả để làm nước giải khát, Việt Nam cũng có nhiều vườn trồng dâu lấy quả hơn trải đều từ Bắc vào Nam như vườn dâu xứ Đoài, Daklak, Đà Lạt, An Giang
ĐÓ CŨNG LÀ LÝ DO MÀ QUẢ DÂU TẰM TRỞ THÀNH LINH HỒN TRONG CHÉN TRÀ BỔ HUYẾT CỦA AN NAM Y QUÁN.


